Bài học Trung Quốc: Mây đen bao phủ biên giới
(Tin tức 24h) - Những bất đồng về hệ tư tưởng giữa Liên Xô và Trung Quốc lại “được đổ thêm dầu vào lửa” bằng các bất đồng trong việc phân định biên giới.
Thực hiện các chỉ thị từ Bắc Kinh, dân Trung Quốc tìm đủ cách làm thay đổi đường biên giới nhằm “mở rộng lãnh thổ”.
Xung
đột biên giới lần đầu xảy ra vào mùa hè năm 1960 trên phía tây đường
biên giới Xô - Trung, khu vực đèo Buz-Aigyr trên lãnh thổ Cộng hòa
Kyrgystan.
Vào thời gian đó, các vụ đụng độ thường
chưa biến thành xung đột vũ trang và mới chỉ dừng ở mức người Trung
Quốc trắng trợn vi phạm đường “biên giới được phân định một cách không
công bằng” – dĩ nhiên là theo quan điểm của phía Trung Quốc.
Nhưng
tình hình căng thẳng ngày càng leo thang. Nếu như trong suốt cả năm
1960 mới chỉ ghi nhận được gần 100 vụ việc vi phạm biên giới thì trong
năm 1962, con số trên đã là 5.000.
Từ năm 1964 đến
năm 1968 chỉ riêng khu vực biên giới của Quân khu biên phòng Thái Bình
Dương đã có tới hơn 6.000 vụ lính và dân Trung Quốc trắng trợn vi phạm
đường biên giới.
Đến giữa những năm 60, Kremlin
nhận thức được rằng, đường biên giới trên bộ dài nhất thế giới với Trung
Quốc – gần 10.000 km, kể cả “vùng đệm” là Mông Cổ - bây giờ đã không
chỉ không còn là “đường biên giới hữu nghị” mà trên thực tế là hoàn toàn
trống trải trước một quốc gia đông dân nhất thế giới và có một lực
lượng lục quân cũng đông nhất trên thế giới.
Lực
lượng vũ trang Trung Quốc tuy trang bị kém hơn Quân đội Liên Xô hoặc
Quân đội Mỹ nhưng không phải là yếu. Do đã có những đúc rút cụ thể từ
cuộc chiến tranh Triều Tiên mới xảy ra trước đó, nên lúc này cả các
chuyên gia quân sự của cả Matxcova lẫn Washington đều đánh giá Quân đội
Trung Quốc một cách nghiêm túc hơn.
Nhưng Mỹ cách
Trung Quốc cả một đại dương, còn Matxcova trong bối cảnh này phải “một
đối một” trong cuộc đối đầu với nước láng giềng vốn là đồng minh cũ.
Trong
khi Liên Xô rút và giảm quân ở Vùng Viễn Đông, Trung Quốc lại làm ngược
lại- điều động thêm lực lượng đến khu vực Mãn Châu Lý giáp biên giới
với Liên Xô. Chính tại khu vực này, vào năm 1957, Trung Quốc bắt đầu bố
trí các “cựu chí nguyện quân Trung Quốc” rút về từ Triều Tiên.
Chỉ
dọc 2 con sông Amur và Ussuri Chính quyền Trung Quốc đã bố trí tới
100.000 cựu quân nhân. Trước những diễn biến trên, Liên Xô bắt buộc phải
tăng cường đáng kể việc bảo vệ biên giới vùng Viễn Đông của mình.
Ngày
4/2/1967 Trung ương ĐCS Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ra sắc
lệnh: “Về tăng cường bảo vệ biên giới với nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa”.
Tại khu vực Viễn Đông Liên Xô đã thành lập
mới Khu biên phòng độc lập ngoại Baikal và xây dựng 126 đồn biên phòng,
trên biên giới với Trung Quốc đã xây nhiều con đường mới, các công sự -
công trình quốc phòng, các khu vực phòng thủ cùng một hệ thống tín hiệu
báo động.
Nếu như trước khi xảy ra xung đột mật độ
lính biên phòng Liên Xô tại khu vực biên giới với Trung Quốc là ít hơn 1
người/01 km biên giới thì đến năm 1969, tỷ lệ này là 4 chiến sỹ biên
phòng /01 km.
|
| Một đội lính tuần tra biên phòng Liên Xô trên biên giới với Trung Quốc, 1969 .Ảnh: Lưu trữ ảnh TASS |
Tuy
nhiên có một thực tế là dù có được tăng cường mạnh như vậy thì Bộ đội
biên phòng Liên Xô cũng không thể bảo vệ biên giới trong trường hợp có
một cuộc xung đột quy mô lớn.
Đến thời gian đó,
chính quyền Trung Quốc đã điều từ sâu trong nội địa đến khu vực biên
giới thêm 22 sư đoàn nữa. Tổng quân số Trung Quốc ở khu vực giáp biên
giới với Liên Xô lên tới 400.000 người.
Tại khu
vực Mãn Châu Lý, Trung Quốc đã xây dựng một cơ sở hạ tầng quân sự rất
mạnh gồm: các khu vực công trình phòng thủ, hầm trú ẩn, hệ thống đường
sắt và các sân bay quân sự.
Đến cuối những năm 60,
cụm quân phía Bắc của PLA đã có trong biên chế 9 tập đoàn quân binh
chủng hợp thành (44 sư đoàn, trong đó có 11 sư đoàn bộ binh cơ giới),
hơn 4.000 xe tăng và 10.000 khẩu pháo. Ngoài bộ đội thường trực, Trung
Quốc còn có thể nhanh chóng huy động dân quân với tổng quân số tương
đương với 30 sư đoàn bộ binh.
Nếu xảy chiến sự thì
về phía Liên Xô chỉ có trong tay 20 sư đoàn cơ giới hóa của Quân khu
Ngoại Baikal và Quân khu Viễn Đông, nhưng tất cả các đơn vị của Quân khu
Viễn Đông trong suốt 10 năm tính đến thời điểm đó được xếp loại là các
đơn vị hậu phương và được trang bị vũ khí và trang bị kỹ thuật theo
nguyên tắc “còn gì cấp nấy” (đó là chưa kể đến trình độ huấn luyện).
Tất
cả các đơn vị tăng của Quân khu Ngoại Baikal dưới thời Khrushev hoặc bị
giải thể hoặc được điều chuyển sang phía Tây dải Ural (vùng lãnh thổ
Châu Âu để đối đầu với NATO –ND). Một trong 2 sư đoàn tăng của Quân khu
Viễn Đông cũng chịu số phận tương tự.
Trước chiến
tranh thế giới lần thứ hai, Liên Xô đã xây dựng tại khu vực Viễn Đông và
Ngoại Baikal nhiều công trình phòng thủ kiên cố đề phòng trường hợp xảy
ra chiến tranh với Nhật Bản. Sau năm 1945, những tuyến phòng thủ này bị
quên lãng và đến thời Khrushev thì bị bỏ hoang hoàn toàn.
Từ
giữa những năm 60, giới lãnh đạo Xô Viết buộc phải khẩn cấp khôi phục
lại các tuyến phòng thủ này và điều từ phía Tây sang Viễn Đông các xe
tăng đang niêm cất và bảo quản tại các kho từ cuối chiến tranh thế giới
lần thư hai – chúng không còn thích hợp để chống lại các xe tăng hiện
đại của Mỹ, phần lớn động cơ của chúng đã hết tuổi thọ, - chúng không
thể tham gia tấn công, nhưng dù sao cũng có thể sử dụng để đánh trả các
đợt tấn công theo chiến thuật biển người của Lục quân Trung Quốc.
Đón đọc Phần 3: Bắc Kinh run sợ
Lê Hùng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét