TQ chuyển sang thử lửa và bất chấp xung đột
TQ đã đi từ "ẩn mình chờ thời", sang "chủ động tấn công", từ "duy
trì căng thẳng mức độ thấp" sang "thử lửa và sẵn sàng chấp nhận xung
đột".
Thái độ ngạo mạn, hành động hung hăng với mức độ ngày càng leo thang
tại Biển Đông - Trung Quốc đang có ý đồ gì? Không khó để nhận ra từ an
ninh quốc phòng, dân sự, luật pháp, chính trị, dư luận trong nước này đã
có những chỉ dấu thể hiện mạnh mẽ hơn quyết tâm khẳng định chủ quyền
phi pháp tại biển Đông.
Nếu xem "duy trì căng thẳng mức độ thấp" từ thập kỷ 1990 - đầu 2000
là phương châm hành động chính của nước này trong tranh chấp chủ quyền
tại biển Đông, thì phải chăng từ 2009 đến nay, Trung Quốc đã chuyển dần
sang một giai đoạn mới với nguyên tắc "thử lửa và sẵn sàng chấp nhận
xung đột".
Sự "bất biến" của lịch sử
Trong thập kỷ 1970 và 1980, tình hình Biển Đông diễn biến vô cùng
phức tạp. Trung Quốc nhận định chính sách của nước này đối với Biển Đông
là "duy trì sự kiềm chế tương đối, tránh tình trạng căng thẳng lan
rộng". Dù vẫn có các hành động xâm phạm chủ quyền và xác lập quyền cai
quản các đảo nhưng hoạt động của Trung Quốc vẫn còn hạn chế. Nhìn chung,
Bắc Kinh cố gắng không cho tình hình tranh chấp căng thẳng quá mức.
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đã có những tuyên bố lẫn hành
động xác quyết hơn. Học giả Khâu Đức Minh đã khái quát các chính sách
Biển Đông của Trung Quốc trong giai đoạn này trong 16 chữ: "gác tranh
chấp, hiệp thương hữu nghị, đàm phán song phương và thúc đẩy hợp tác".
Học giả Lâm Chính Nghĩa nêu rõ hơn phương châm chỉ đạo chính sách Biển
Đông của Trung Quốc: "Chủ quyền thuộc về ta, gác tranh chấp, giải quyết
hòa bình, cùng khai thác".
![]() |
| TQ sử dụng vòi rồng tấn công tàu VN vào ngày 1/6 vừa qua. Ảnh: Hoàng Sang |
Trong suốt thời kỳ "cải cách và mở cửa", Trung Quốc đã chú trọng
hướng kinh tế ra vùng duyên hải và đầu tư cho quốc phòng, đặc biệt không
quân và hải quân. Sự lệ thuộc vào nhập khẩu dầu cũng được ước đoán sẽ
tăng lên 65% vào năm 2020. Mạch máu phát triển của ngành công nghiệp
đang chịu thách thức, thôi thúc Trung Quốc xây dựng một chiến lược biển
để đảm bảo an ninh năng lượng.
Kế thừa quan niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Đặng Tiểu Bình
từ năm 1982, Trung Quốc theo đuổi giấc mơ cường quốc biển bằng chiến
lược "duy trì căng thẳng mức độ thấp". Theo đó, Bắc Kinh tăng cường
tuyên truyền và nâng cao ý thức về tuyên ngôn bất biến "Biển Đông là của
Trung Quốc" trong nội bộ nước này. Bên ngoài, nước này tích cực mở rộng
vùng kiểm soát trên biển thông qua hai mặt giáp công.
Một mặt, Trung Quốc nhấn mạnh "giữ nguyên hiện trạng" để cụ thể hóa
cho chính sách "việc đã rồi" (fait accompli). Mặt khác, Bắc Kinh còn
vươn các "xúc tu" nhằm kiểm soát càng nhiều diện tích lãnh hải càng tốt.
Tham vọng độc bá của Trung Quốc thông qua đường lưỡi bò phi lý với yêu
sách 80% Biển Đông là một bằng chứng.
Chú trọng hai mũi giáp công là ngoại giao và quân sự, Bắc Kinh muốn
thông qua chiêu bài "thập diện mai phục" để hiện thực hóa phương châm
"chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc là bất biến". Với ý đồ này,
Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì căng thẳng tại Biển Đông với mức độ có
thể kiểm soát. Cụ thể, Trung Quốc dùng ngoại giao gây sức ép nhằm duy
trì hiện trạng có lợi cho nước này. Sau đó, với phương châm 9 chữ "Giữ
gần bờ, tranh biển gần, ra đại dương" (Bảo cận ngạn, tranh cận hải, xuất
viễn dương), sức mạnh vũ lực làm bàn đạp cho mặt trận ngoại giao.
Như vậy, có thể thấy rõ từ thập kỷ 1990 trở đi, Trung Quốc đã có bước
chuyển hướng tư tưởng chủ đạo thành "chủ quyền thuộc về ta, gác tranh
chấp, cùng khai thác". Vào năm 1996, "Nghị trình biển Trung Quốc thế kỷ
XXI" ra đời. Trong đó, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển chính là mục
tiêu trọng tâm. Với các đảo Bắc Kinh đang chiếm hữu - dù bằng vũ lực-
hiện trạng được giữ nguyên. Với các đảo đang tranh chấp và trong vòng
kiểm soát, Bắc Kinh đề xuất hợp tác cùng khai thác. Về cơ bản, chiến
lược này tuân theo nguyên tắc chỉ đạo "gác tranh chấp, cùng khai thác".
Nút thắt của chuyển giao
Kể từ năm 2007 Trung Quốc đã gia tăng hàng loạt các hành động gây
căng thẳng trên Biển Đông. Đây cũng là năm đánh dấu những bước chuyển
biến mạnh mẽ, lẫn trên thực địa, lẫn về mặt ngoại giao.
Trung Quốc ngày càng thể hiện "sức mạnh cứng" thông qua quân sự bằng
hàng loạt các biện pháp cắt cáp, cản trở và phá hoại hoạt động đánh bắt
thủy sản của các nước trong khu vực, chiếm đóng bãi cạn Scarborough của
Philippines (12/2012), đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu trong thềm
lục địa Việt Nam,... Chảo lửa Biển Đông còn nóng hơn khi Trung Quốc dùng
"sức mạnh mềm" qua con bài "Nhân dân tệ" để chia rẽ ASEAN; phản đối Mỹ,
Nhật Bản và Ấn Độ tham gia vào giải quyết xung đột ở biển Đông.
Những tưởng chính sách của Trung Quốc sẽ mềm mỏng hơn với thế hệ lãnh
đạo mới, thế nhưng kể từ tháng 3/2013 Trung Quốc lại gia tăng hàng loạt
các biện pháp làm phức tạp thêm tình hình. Bắc Kinh đã tuyên bố chủ
quyền đối với Bãi Cỏ Mây.
Thậm chí Thiếu tướng Trương Triệu Trung còn gợi ý "chiến lược cải
bắp" để chiếm đoạt Trường Sa với "ba chuỗi gọng kềm" gồm lực lượng tàu
cá, các đội tàu bán quân sự như Hải giám hay Ngư chính và Lực lượng Hải
quân Trung Quốc. Gần đây, tổng công ty dầu khí Trung Quốc (CNOOC) đã
hoàn tất lắp đặt giàn khoan nước sâu lớn nhất châu Á ở Biển Đông, thiết
lập trạm thu dữ liệu vệ tinh và bán các tour du lịch đến Hoàng Sa.
Trong vòng 7 năm từ 2007, Bắc Kinh "tung hỏa mù" tại vùng biển tạo
nên càng nhiều bất ổn, khiến các quốc gia trong khu vực như ngồi trên
chảo lửa và hao tiền tốn của vào các hoạt động chạy đua vũ trang hay tập
trận. Các hành động của Trung Quốc đã buộc Philippines triển khai thêm
tàu đến Bãi Cỏ Mây (24/5), khiến Thái Lan đề xuất họp toàn bộ ASEAN về
Biển Đông (23/5) và hàng loạt các cuộc tập trận của Mỹ, Nhật, Indonesia,
Ấn Độ... tại khu vực.
Trong khi sự thay đổi lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc hướng đến các
chính sách mang tính mềm mỏng, khéo léo thì các tướng lĩnh diều hâu Bắc
Kinh tiếp tục kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cùng với "chiến lược
cải bắp" của Trương Triệu Trung, giáo sư Hàm Húc Đông tại đại học Quốc
phòng Trung Quốc còn nhấn mạnh Bắc Kinh phải giải quyết các tranh chấp
lãnh thổ ở Biển Đông bằng cách "tấn công bất cứ lúc nào".
Tuyên bố hung hăng trên đã gây hoang mang cho các nước láng giềng,
khiến dư luận đặt câu hỏi về ý định thực sự của Trung Quốc. Tham vọng
mười mươi này đẩy căng thẳng đến mức cao và khiến lòng tin giữa ASEAN và
Trung Quốc giảm sút nghiêm trọng.
Sự mâu thuẫn trong các tuyên bố của Trung Quốc lẫn cách hành xử của
bộ phận tướng lĩnh diều hâu Bắc Kinh đang ra một đặt câu hỏi lớn: Phải
chăng đã có một sự thay đổi triệt để về chính sách đối ngoại nói chung,
và biển Đông nói riêng? Từ "ẩn mình chờ thời", sang "chủ động tấn công",
từ "duy trì căng thẳng mức độ thấp" sang "thử lửa và sẵn sàng chấp nhận
xung đột".
Huỳnh Tâm Sáng - Vũ Thành Công

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét