Khi vừa nhậm chức, trong chuyến thăm hạm đội Tam Á, chủ tịch Trung
Quốc Tập Cận Bình đã thị sát các tàu chiến mới nhất của hải quân Trung
Quốc là các tàu khu trục lớp 052C, các tàu frigate lớp Tpye 054А, các
tàu tên lửa lớp 022 và tàu sân bay trực thăng-đổ bộ lớp Type 071.

Hải quân Mỹ và lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản thường xuyên luyện tập hiệp đồng tác chiến.
Ông Tập cũng thăm tàu ngầm nguyên tử tên lửa Trường chinh 9 lớp Type
094. Tại đài chỉ huy của tàu ngầm này, Tập Cận Bình đã cho phép các
phóng viên truyền hình ghi hình ông bên cạnh ống kính tiềm vọng.
Chuyến thăm này đã đổ dầu vào lửa những cuộc thảo luận ở các nước
phương Tây, Viễn Đông và Đông Nam Á về sự bành trướng gia tăng trên biển
của Trung Quốc. Nhưng nếu như trong giới chức chính phủ và quân sự cao
cấp, người ta nói về chuyện này thường là khá kiềm chế thì trong cộng
đồng khoa học và giới phân tích thì không có hạn chế nào. Làm thế nào để
kiềm chế sức mạnh quân sự, trong đó có sức mạnh hải quân của Trung
QuốcĐó chính là chủ đề thảo luận chính.
Về vấn đề này, những ý kiến thường gặp khá cực đoan. Ví dụ, tạp chí
uy tín của Anh-Mỹ The Journal of Strategic Studies đã đăng tải bài báo
của Sean Mirski với tiêu đề không úp mở “Bóp nghẹt: Bối cảnh, ứng xử và
hậu quả của một phong tỏa hải quân Mỹ đối với Trung Quốc” (Stranglehold:
The Context, Conduct and Consequences of an American Naval Blockade of
China) đã gây tiếng vang xã hội lớn.
Tác giả coi phong tỏa hải quân đối với Trung Quốc là phương án tối ưu
gây áp lực lên Bắc Kinh nhằm phá hủy tiềm lực kinh tế của họ, sẽ buộc
Trung Quốc thừa nhận thất bại trong chiến tranh. Và bây giờ, khi mà cả
thế giới đang căng thẳng theo dõi những dao động tốc độ tăng trưởng công
nghiệp ở nước này và hy vọng Trung Quốc sẽ lại trở thành đầu tàu giúp
thoát khỏi cuộc khủng hoảng thế giới. Tuy nhiên, những tính toán kinh tế
không phải luôn luôn trùng với các tính toán địa-chiến lược, trong mọi
trường hợp là về thời gian.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trên tàu ngầm nguyên tử Trường Chinh 9.
Nếu nền kinh tế Trung Quốc trên thực tế sẽ bắt đầu dậm chân tại chỗ
hay tồi tệ hơn là suy thoái thì quả thực khả năng Bắc Kinh động đến gươm
đao nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội và nội chính là có thể
xảy ra. Mà khả năng đó thì mỗi năm một nhiều hơn.
Chính trường hợp đó được Sean Mirski xem xét. Ông ta cho rằng, việc
phong tỏa là có thể khi giữa Mỹ và đồng minh với Trung Quốc bắt đầu nổ
ra chiến sự “quy mô lớn”.
Sean Mirski, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Chicago vào năm 2011 và học
vị cử nhân kinh tế và khoa học chính trị, cũng như học vị thạc sĩ quan
hệ quốc tế, nay đang tiếp tục học tại Đại học Tổng hợp Harvard và có lẽ
cũng quen thuộc với học thuyết của Robert McNamara. Ông ta đã hiện đại
hóa và điều chỉnh đôi chút để hướng vào chống Trung Quốc.
Thuyết phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc của Sean Mirski dựa
vào cái gì và những bước đi cụ thể nào, theo ông ta, cần làm để thực
hiện nó? Nhà khoa học trẻ người Mỹ này có lý khi chú ý vào sự phụ thuộc
của kinh tế Trung Quốc vào vận chuyển đường biển. 90% ngoại thương của
Trung Quốc đang được thực hiện bằng đường thủy. Trung Quốc buộc phải
nhập khẩu gần 60% dầu mỏ tiêu thu, một phần đáng kể trong số đó được vận
chuyển bằng tàu chở dầu.
Tại 10 cảng lớn nhất Trung Quốc tập trung hơn 80% tổng lưu lượng
container. Chính vì thể mà Sean Mirski cho rằng, việc phong tỏa dài và
dù cho là không phải 100% cũng sẽ có những hậu quả chết người đối với
kinh tế Trung Quốc.
Về nguyên tắc thì có thể thực hiện được việc phong tỏa đường biển như
thế. Mirski quan niệm nó gồm 2 vành đai. Vành đai ngoài là phong tỏa từ
xa, nằm sau chuỗi đảo quốc bao quanh Trung Quốc từ hướng đông và chạy
dài từ Hokkaido ở phía bắc đến Singapore ở phía nam. Các quốc gia này
hoặc là đồng minh của Washington, hoặc là nghiêng về phía Mỹ. Bởi vậy,
trong một cuộc xung đột Trung-Mỹ, họ sẽ đứng về phía Mỹ.
Trong vành đai ngoài sẽ tiến hành chặn dừng, khám xét và bắt giữ tất
cả các tàu hàng chạy đến các cảng Trung Quốc hoặc chạy ra từ đó. Nhiệm
vụ này sẽ do các tàu chiến nổi của Hải quân Mỹ và đồng minh tiến hành
bằng cách triển khai các binh đoàn tàu của mình tại các khu vực nằm
ngoài tầm với của máy bay và các hệ thống tên lửa bờ biển Trung Quốc.

Tàu ngầm nguyên tử tên lửa lớp Tấn Type 094 hiếm khi rời bến cảng Tam Á dù chỉ trong thời gian ngắn
Vành đai trong là vành đai “sát thương” theo cách gọi của Mirski,
liên quan đến các vùng biển tiếp giáp trực tiếp bờ biển Trung Quốc. Ở
đó, luật “đánh chìm tất cả chúng đi!” sẽ có hiệu lực. Chức năng này được
giao cho các tàu ngầm Mỹ và Nhật mà số lượng ở khu vực này hiện giờ có
thể được tăng lên đến 71 chiếc, cũng như máy bay triển khai trên bờ và
hoạt động rải thủy lôi tích cực.
Quả thực là liên quan đến thủy lôi, Sean Mirski có nhấn mạnh “sự teo
biến” thực tế về khả năng của Hải quân Mỹ trong việc thực hiện các hoạt
động rải thủy lôi tiến công mà cụ thể là tính đến đầu tài khóa 2013, vẫn
không có các loại thủy lôi có thể sử dụng từ tàu ngầm.
Không thể không thấy là sự xuất hiện của tàu ngầm nước ngoài gần bờ
biển Trung Quốc đang làm Bắc Kinh lo ngại. Trả lời phóng vấn đài truyền
hình trung ương Trung Quốc, chuẩn đô đốc hải quân Trung Quốc Yin Zhuo đã
nói rằng, sự cần thiết củng cố lực lượng chống ngầm ở Biển Đông do sự
gia tăng hoạt động của tàu ngầm nước ngoài đã chín muồi.
Tất cả là như thế. Nhưng mặt khác, hải quân Trung Quốc hôm nay hiển
nhiên đang là người dẫn đầu thế giới về tăng cường sức mạnh chiến đấu.
Họ đang ồ ạt đóng và đưa vào biên chế các tàu tên lửa, frigate,
corvette, tàu ngầm thông thường và tàu đổ bộ.
Các chuyên gia Trung Quốc rõ ràng đã hoàn thiện được các tàu khu trục
lớp Type 052С với các hệ thống chỉ huy chiến đấu tương tự hệ thống
Aegis của Mỹ và sắp tới, dường như họ sẽ triển khai đóng hàng loạt các
tàu khu trục cải tiến lớp Type 052D.
Trong biên chế hải quân Trung Quốc cũng đã xuất hiện cả tàu sân bay
là tàu Liaoning được cải tạo từ tàu sân bay Varyag đóng dở của Liên Xô.

Tàu mặt nước quả hải quân Trung Quốc tập trận bắn đạn thật.
Sự kiện này thu hút nhiều sự chú ý cả ở Trung Quốc và bên ngoài nước
này vì nó dường như cho thấy sự nhảy vọt về chất trong sự phát triển của
hạm đội Trung Quốc và sự mở rộng khả năng giành ưu thế trên đại dương
thế giới của nó.
Sự phấn khích này rõ ràng không đúng với thực tế. Một là, Liaoning sẽ
không thể gia nhập lực lượng sẵn sàng chiến đấu trước năm 2017, nghĩa
là còn khá lâu nữa. Hai là, phi đội máy bay trên tàu sẽ chỉ gồm 22 tiêm
kích bom J-15, biến thể làm nhái tiêm kích Su-33 của Nga, tức là quá ít
so với các máy bay tương tự triển khai trên các tàu sân bay Mỹ.
Ba là, kể cả các tàu sân bay lớn hơn dự kiến đóng cho hải quân Trung
Quốc trong tương lai cũng sẽ khó, nếu như là không thể, xông ra được
không gian hoạt động đại dương vì như đã nói, Trung Quốc bị bao vây bởi
một chuỗi “các tàu sân bay không thể đánh chìm”đó là các quốc đảo đồng
minh hoặc thân thiện với Mỹ, mà ở một số nước trong số đó hiện đã có các
căn cứ không quân Mỹ.
Có cảm tưởng Mỹ và các đồng minh gần gũi cố tình làm ồn ào về chuyện
tàu sân bay Trung Quốc là để kích động Bắc Kinh. Để họ tiếp tục bỏ những
nguồn lực tài lực và vật lực khổng lồ vào việc đóng các con tàu dễ dàng
bị phát hiện và tiêu diệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét