Báo Trung Quốc phân tích về không- hải quân Việt Nam
Mạng quân
sự Sina Trung Quốc ngày 16 tháng 5 đã đăng một bài viết phân tích về
thực lực của không quân- hải quân Việt Nam và cho rằng Việt Nam còn lâu
mới là đối thủ của Trung Quốc.
Bài báo này cho rằng khả năng
chiến tranh Trung- Việt là có thể xảy ra, và nếu như vậy lực lượng hải
không quân hai nước sẽ đóng vai trò chủ lực trong giao chiến, và việc
phân tích sức mạnh của đối thủ là rất có ý nghĩa.
Theo Sina, về
không quân, Việt Nam hiện đã trang bị 12 máy bay chiến đấu Su-27SK (tiến
hành không chiến tầm xa) và 24 máy bay chiến đấu Su-30MK2 (có thể tiến
hành tấn công chính xác đối với các mục tiêu trên biển) mua của Nga,
biên chế cho khoảng 3 trung đoàn bay. Báo này cũng cho rằng trong tương
lai, không quân Việt Nam sẽ còn mua rất nhiều máy bay chiến đấu chủ lực.
Không loại trừ mua lượng nhỏ máy bay chiến đấu tấn công Su-34 và nhập
khẩu rất nhiều máy bay tấn công hạng nhẹ F/A50 của Hàn Quốc để tiến hành
phối hợp cao thấp. Nhưng do vị trí địa lý, hai đầu nam bắc lãnh thổ
Việt Nam cách nhau 1.600 km, chỗ hẹp nhất của chiều sâu chỉ 50 km nên
việc tự bảo vệ bản thân của không quân Việt Nam khi khai chiến là “có
vấn đề” và việc “kiểm soát Biển Đông” hiện này là điều “không thể”.
Về hải quân, báo Sina cho biết hiện Hải quân Việt Nam có hơn 120 tàu tác
chiến các loại, gồm có tàu hộ vệ, tàu tên lửa và tàu ngầm thông thường.
Chúng phần lớn là “đồ cũ” do Liên Xô viện trợ trước đây, do thiếu bảo
dưỡng và cung ứng linh kiện, thực lực của hải quân Việt Nam thực sự khó
mà so sánh với hải quân Trung Quốc. Bài báo cho rằng, trang bị tương đối
tiên tiến là tàu tên lửa lớp Tarantul (người Việt Nam gọi là lớp
Molniya/Tia chớp) của Cục thiết kế trung ương Almaz Nga. Tàu này có
lượng giãn nước trên 500 tấn, tốc độ lớn nhất trên 40 hải lý/giờ, trang
bị hệ thống phóng tên lửa chống hạm 3M-95 Uran và 16 quả tên lửa chống
hạm, 4 quả tên lửa phòng không vác vai Igla (phóng từ bệ phía sau tàu).
Nga đã sản xuất 4 tàu cùng loại cho Việt Nam, sau đó, Việt Nam sẽ nhận
được giấy phép sản xuất loại tàu này, chế tạo 6 chiếc ở nhà máy Quang
Minh, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài tàu tên lửa tốc độ nhanh Tarantul,
Nga còn chế tạo 2 tàu hộ vệ lớp Gepard cho Việt Nam, tổng kim ngạch là
350 triệu USD, hiện nay hai tàu này đã phục vụ trong hải quân Việt Nam.
Ngoài ra còn có 2 tàu chiến tương tự đang lắp ráp ở thành phố Hồ Chí
Minh, Nga sẽ cung cấp linh kiện cho chúng. Tàu hộ vệ lớp Gepard chủ yếu
dùng để chống tàu ngầm, tấn công tàu nổi và mục tiêu trên không.
Ngoài ra, Nga còn cung cấp hệ thống tên lửa chống hạm phòng thủ bờ biển
Bastion. Hệ thống tên lửa chống hạm kiểu cơ động này của Nga có tính
năng tiên tiến, tốc độ bay lớn nhất đạt 3 Mach, uy lực to lớn, có thể
phá hủy tàu chiến tất cả các lớp và chủng loại, trong đó có tàu sân bay,
bất kể là mục tiêu biên đội hay mục tiêu độc lập. Nó có thể bảo vệ
tuyến đường bờ biển trên 600 km, ngăn chặn quân địch đổ bộ tác chiến.
Đồng thời, Việt Nam đã đặt mua 6 tàu ngầm diesel-điện Type 636M (NATO
gọi là lớp Kilo) của Công ty xuất khẩu vũ khí nhà nước Nga, trị giá hợp
đồng lên tới 3,2 tỷ USD. Nga đã bàn giao 2 tàu ngầm loại này cho hải
quân Việt Nam, lần lượt là tàu ngầm Hà Nội số hiệu HQ-182 và tàu ngầm
TP. Hồ Chí Minh số hiệu HQ-183. Tàu ngầm Hải Phòng số hiệu HQ-184 hạ
thủy vào tháng 8 năm 2013, dự kiến sẽ về Việt Nam vào tháng 11 năm 2014.
Nhưng, tàu tên lửa lớp Tarantul của hải quân Việt Nam trang bị tên lửa
Moskit – loại tên lửa được Nga gọi là sát thủ tàu sân bay, song người
Việt Nam chủ yếu sử dụng tên lửa Uran tốc độ cận âm – cơ bản giống với
tên lửa chống hạm YJ-83 hiện sử dụng cho tàu chiến của hải quân Trung
Quốc.
Trên các phương diện như tầm bắn xa nhất và trọng lượng đầu
đạn, nó còn chưa bằng tên lửa chống hạm YJ-83 của hải quân Trung Quốc.
Trong khi đó, tàu tên lửa lớp Osa hiện có của hải quân Việt Nam sử dụng
tên lửa chống hạm Styx kiểu cũ, đây là một loại tên lửa chống hạm rất dễ
bị gây nhiễu.
Còn về tàu hộ vệ lớp Gepard của hải quân Việt Nam
mua của Nga – đây chính là một loại tàu chiến có khả năng săn ngầm nhất
định thích ứng với tác chiến biển gần. Nếu lấy nó so sánh với tàu hộ vệ
tên lửa hạng nhẹ Type 056 của hải quân Trung Quốc (đã trang bị 5 chiếc
cho Hạm đội Nam Hải), tàu hộ vệ lớp Gepard của hải quân Việt Nam không
được coi là có khoảng cách. Báo này cho nếu tách rời sự hỗ trợ của
không quân Việt Nam, tàu hộ vệ loại này của hải quân Việt Nam chỉ có thể
trở thành “bia ngắm sống” của máy bay chiến đấu Phi Báo (JH-7) của lực
lượng hàng không hải quân Trung Quốc.
Tàu ngầm lớp Kilo sắp trang
bị quy mô lớn của hải quân Việt Nam là mối đe dọa lớn nhất. Là một loại
vũ khí mang tính tấn công, tàu ngầm nếu sử dụng thích hợp thì có thể
tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng cho các tàu nổi cỡ lớn như tàu sân bay,
hải quân Việt Nam có thể thông qua huấn luyện 1 – 2 năm là có thể thành
thạo điều khiển một chiếc tàu ngầm diesel-điện hiện đại hóa cao, và sử
dụng vũ khí của tàu. Nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là có thể
nhanh chóng điều khiển thuần thục tàu ngầm, cũng không có nghĩa là có
thể phát huy tác dụng trong giao chiến với kẻ địch mạnh có khả năng tác
chiến hệ thống tương đối hoàn thiện. Đối với một lực lượng hải quân chưa
từng trang bị, sử dụng tàu ngầm, sử dụng thành thạo tàu ngầm có thể sẽ
đối mặt với rất nhiều vấn đề phức tạp. Trước hết là xây dựng hạ tầng
đồng bộ.
Bài báo tóm lại, cho dù máy bay chiến đấu, tàu chiến của
hải quân Việt Nam mua của Nga được triển khai toàn bộ thì hải quân Việt
Nam cũng không thoát khỏi phạm trù hải quân tác chiến-phòng thủ gần bờ.
Đây cũng là khó khăn của hải quân Việt Nam, một lực lượng lấy tàu hộ vệ
làm tàu chủ lực của biên đội tác chiến trên biển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét