Tại sao nói: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam?
Hỏi: "Được biết, Việt Nam là nhà nước đầu tiên thực
thi chủ quyền hòa bình trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mong BBT
giải thích về quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam?"- Lê Kim (Hà
Nội)
Trả lời: Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, đặc biệt
căn cứ vào tài liệu của Nhà nước phong kiến Việt Nam (Châu bản Triều
Nguyễn), Việt Nam là nước đầu tiên thực thi chủ quyền một cách Hòa bình
trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này, còn thể hiện trên cả
những dấu tích văn hóa Lễ khao Lề thế mà chúng ta đã biết.Do đó, những tuyên bố ngoại giao: "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" là hoàn toàn có cơ sở. Đồng thời, cũng khẳng định rằng "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam"
![]() |
| Tượng đài Hải đội Hoàng Sa, kiêm quản Bắc Hải (Ảnh Lê Phú Nguyện) |
Về quá trình thực thi chủ quyền với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
của Nhà nước phong kiên, theo sách "100 câu hỏi đáp về biển đảo dành cho
tuổi trẻ Việt Nam" của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà nước phong kiến
Việt Nam suốt trong 3 thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, dù
trải qua 3 triều đại khác nhau, đều đã thực hiện sứ mệnh thiêng liêng
của mình, với tư cách là Nhà nước Đại Việt, tiến hành chiếm hữu và thực
thi chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa:
Nhà nước Đại Việt thời chúa Nguyễn: Chứng cứ lịch sử có giá trị pháp
lý chứng minh việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với
quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, đó là sự ra đời và hoạt động
thường xuyên, liên tục của đội Hoàng Sa, một tổ chức do nhà nước lập ra
để đi quản lý, bảo vệ, khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội
Hoàng Sa, về sau lập thêm đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, đã
hoạt động theo lệnh của 7 đời chúa, từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn
Phúc Tần cho đến khi phong trào Tây Sơn nổi dậy.
Nhà nước Đại Việt thời Tây Sơn: Trong thời gian từ 1771 đến năm 1801,
gần như lúc nào cũng có chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển
Đông. Tuy nhiên, các lực lượng của Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh, Tây Sơn đã
làm chủ được từng khu vực lãnh thổ thuộc phạm vi quản lý của mình.
Từ năm 1773, Tây Sơn chiếm được cảng Quy Nhơn, tiến về phía Quảng
Nam, kiểm soát đến Bình Sơn, Quảng Ngãi, nơi có cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao
Ré, căn cứ xuất phát của Đội Hoàng Sa.
Năm 1775, Phường Cù Lao Ré thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng
Ngãi đã nộp đơn xin cho phép đội Hoàng Sa và đội Quế Hương hoạt động trở
lại theo thông lệ.
Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, chính quyền Tây Sơn được củng cố
một cách hoàn chỉnh và năm 1786, đã ra quyết định sai phái Hội Đức hầu,
cai đội Hoàng Sa, chỉ huy 4 chiếc thuyền câu vượt biển ra Hoàng Sa làm
nhiệm vụ như cũ. Ngoài ra còn có các đội Quế Hương, Đại Mạo, Hải Ba cũng
được giao nhiệm vụ hoạt động trong Biển Đông.
Nhà nước Việt Nam thời nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng đội Hoàng Sa, đội
Bắc Hải làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa: Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất đất nước, tuy bận việc nội
trị, vẫn tiếp tục quan tâm đến việc bảo vệ, quản lý và khai thác khu vực
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 7 năm 1803, vua Gia Long cho lập lại đội Hoàng Sa: Lấy cai cơ
Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội
Hoàng Sa (theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12).
Tháng giêng năm Ất Hợi (1815) vua Gia Long quyết định: “sai bọn Phạm
Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình”… (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, q.50, tờ 6a).
Sang đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân thực hiện…
Năm 1833, 1834, 1836, Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công phái người ra
Hoàng Sa để dựng bia chủ quyền, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ… mỗi thuyền
vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4, 5 thước, rộng 5
tấc, “Vua Minh Mạng đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy
quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm
dấu mốc…”
Như vậy, suốt từ thời chúa Nguyễn đến thời nhà Nguyễn, đội Hoàng Sa,
kiêm quản đội Bắc Hải, đã đi làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Những hoạt động này đã được các văn
bản nhà nước ghi nhận, như: châu bản của triều đình nhà Nguyễn, các văn
bản của chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp,… hiện đang
được lưu trữ tại các Cơ quan lưu trữ nhà nước.
Trong giai đoạn lịch sử này, có một chứng cứ hết sức quan trọng không
thể không đề cập đến khi chứng minh nhà nước phong kiến Việt Nam đã
quản lý thật sự, hiệu quả đối với hai quần đảo này. Đó là việc tổ chức
đơn vị hành chính của Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà
nước lúc bấy giờ. Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc Thừa tuyên Quảng Nam
hay Quảng Nghĩa (Ngãi), lúc là phủ khi thì trấn: “Bãi Cát vàng trong
phủ Quảng Nghĩa” (Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư); “Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam, huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh” (Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn); sang thời Tây Sơn, phủ Quảng Nghĩa đổi thành phủ Hòa Nghĩa. Thời nhà Nguyễn, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét