Phát biểu của Ấn Độ không 'vừa lòng' TQ
"Ấn Độ cũng mong muốn gây ảnh hưởng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, như một phần của chiến lược đối trọng với TQ" GS. Srikanth Kondapalli, Đại học Jawaharlal Nehru. LTS: Nhân chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Ấn Độ (27-29/10/2014), Tuần Việt Nam có bài phỏng vấn GS. Srikanth Kondapalli, một chuyên gia về Trung Quốc, thuộc Đại học Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), xung quanh chính sách mới của Tân Thủ tướng Ấn Độ Modi, vai trò của Ấn Độ trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, cũng như những lĩnh vực mà Việt Nam và Ấn Độ cần đẩy mạnh hợp tác.
| GS. Srikanth Kondapalli.Ảnh: Chinagate.cn |
Những động thái gần đây của tân Thủ tướng Modi đang làm dư luận
thế giới quan tâm đặc biệt. Bây giờ liệu có quá sớm để nói về một chủ
thuyết, hay đại chiến lược, của Thủ tướng Modi hay không? Nếu có thì
trong chủ thuyết hay đại chiến lược đó bao gồm những trụ cột nào?
Chúng tôi, ở tại Ấn Độ, chưa bao giờ được nghe thấy về một đại chiến
lược của Ấn Độ, hay dự thảo một đại chiến lược như vậy. Những gì chúng
tôi có thể tiếp cận là những tuyên bố, những mục tiêu và những lợi ích
được được tuyên bố trong thời gian gần đây. Cơ sở của điều này tất nhiên
là chính phủ mới, lần đầu tiên kể từ những năm 1980, đã có được đa số
tuyệt đối trong Quốc hội.
Chính phủ mới có nhiệm vụ "đổi mới', tức là phải tăng cường các cải
cách về kinh tế. Để làm được điều này, chính phủ cần có các khoản đầu
tư, công nghệ, khai thác thị trường, xuất khẩu và trên hết là sự ổn định
với các nước láng giềng. Các chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narenda
Modi tới Tokyo và Washington có thể được trông đợi trong văn cảnh này.
Và lời mời của ông tới lãnh đạo các quốc gia Nam Á tới dự lễ nhậm chức
của ông vào tháng 5/2014, cũng như chuyến thăm của ông tới Bhutan và
Nepal, hoặc chuyến thăm Bangladesh và Myanmar của Ngoại trưởng Sushma
Swaraj, được coi là sự tăng cường chính sách thân thiện láng giềng của
chính phủ mới.
Trụ cột thứ hai trong chính sách của chính phủ mới là bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, và kể từ khi có chuyến thăm Dehli của Chủ
tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng Chín, các tư liệu liên quan đến
những vụ vi phạm biên giới lãnh thổ đã được đề cập đến một cách công
khai.
Khu vực Đông Nam Á nằm ở đâu trong chủ thuyết của Thủ tướng Modi, xét cả về kinh tế, lẫn chính trị, lẫn an ninh chiến lược?
Thật thú vị là "Chính sách Nhìn Hướng Đông" (Look East Policy) đã
được công bố năm 1991, và được theo đuổi bởi các nội các của Ấn Độ một
cách liên tục, nay đã chuyển sang "Chính sách Hành động Hướng Đông" (Act
East Policy) của Thủ tướng Modi. Đó chính là chủ đề của tuyên bố chung
giữa Thủ tướng Modi và Tổng thống Obama khi Thủ tướng Modi sang thăm Mỹ.
Chính sách Nhìn Hướng Đông" năm 1991 được củng cố bởi hàng loạt các
sáng kiến đa phương như đạt được đối thoại toàn diện với ASEAN (năm
1995), tham gia Diễn đàn An ninh ASEAN (ARF, năm 1996), và ký kết hiệp
định về khu vực thương mại tư do (khởi đầu năm 2003 và ký kết năm 2010).
Vai trò của Ấn Độ trong khu vực này được tiếp tục tăng cường với việc
tham gia Cấp cao Đông Á năm 2005, cũng như các quan hệ đối tác chiến
lược và tập trận hải quân đa phương trong khu vực.
Năm 2001, vai trò của Ấn Độ trong khu vực đã được định dạng lại hướng
tới những sự tham gia tích cực hơn suốt từ Vịnh Ba tư tới Eo Malacca,
do đầu tư của Ấn Độ vào khu vực năng lượng ở Sakhalin và sự gia tăng của
thương mại và đầu tư của Ấn Độ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài
Loan và ASEAN, sự phụ thuộc lẫn nhau trong khu vực về dòng năng lượng
chuyển từ Ấn Độ Dương...
Vì Nam Á và Đông Á chiếm hơn 55% thương mại của Ấn Độ, và vì Ấn Độ đã
ký kết các hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản và Hàn Quốc
và đang đàm phán hiệp định khu vực thương mại tư do với Đài Loan, cũng
như hiệp định thương mại ưu đãi với Trung Quốc, nên Ấn Độ ưu tiên đẩy
mạnh thương mại, đầu tư và thị trường. Chẳng hạn, Singapore hiện nay là
một trong các nhà đầu tư chính vào Ấn Độ. Tính đến 2012, Ấn Độ có hơn 80
tỷ USD thương mại song phương với khu vực này (tăng từ mức dưới 3 tỷ
USD năm 1993), và hy vọng rằng con số này sẽ tăng lên 100 tỷ đô la vào
năm 2015. Tuyến đường sắt kết nối giữa Ấn Độ - Myanmar - Thái Lan đang
được hoạch định.
Ngoài góc độ kinh tế, Chính sách Nhìn Hướng Đông cũng có ba chiều về
an ninh, gồm có cân bằng với Trung Quốc ở Myanmar, đầu tư vào các mỏ dầu
ở Việt Nam, và chủ thuyết về biển của Hải quân Ấn Độ năm 2007 - xếp
Biển Đông và Vịnh Ba tư ở tầm quan trọng thứ hai sau Ấn Độ Dương. Với
việc Trung Quốc có kế hoạch lập các cảng lưỡng dụng ở Habantota,
Gwadhar..., Ấn Độ cũng mong muốn gây ảnh hưởng ở Biển Đông và Biển Hoa
Đông, như một phần của chiến lược đối trọng.
![]() |
| Một dàn khoan Ấn Độ liên doanh với Việt Nam trên Biển Đông. Ảnh: India TV/ Infonet |
Lợi ích của Ấn Độ tại Biển Đông là gì? Theo góc nhìn của các
chuyên gia và nhà chiến lược Ấn Độ, thì có Ấn Độ có thể đóng vai trò gì ở
đây? Ấn Độ có một chiến lược chính thức hay một quan điểm chính thức về
biển Đông hay không?
Lợi ích của Ấn Độ tại Biển Đông trước hết liên quan đến năng lượng và
giữ cho đường hàng hải được yên bình, bởi thương mại giữa Ấn Độ và hàng
loạt các nước trong khu vực đang "đâm chồi". Chẳng hạn, hai công ty của
Ấn Độ là công ty quốc doanh ONGC Videsh (OVL) và công ty tư nhân Essar
đã triển khai giàn khoan ở các lô dầu tại Việt Nam. Nhưng từ tháng Sáu
năm 2006 khu vực khoan dầu của OVL bị Trung Quốc coi là có tranh chấp,
Essar khoan dầu ở vùng an toàn hơn ở Biển Đông.
OVL gặp phải sự ngăn cản khi họ khoan phải đá cứng ở lô 127, trong
khi lô 128 thì có tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thứ nhất,
Trung Quốc được cho là đã có biện pháp áp đặt ngoại giao khi ngăn cản
tàu hải quân Ấn Độ INS Airawat tiến vào khu vực này vào tháng 7/2011.
Thứ hai, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh yêu cầu tất
cả các công ty khoan dầu nước ngoài phải rút khỏi các hoạt động khoan
dầu trong khu vực. Thứ ba, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang
Liệt tại Đối thoại Shangri-la đã phát biểu gắn kết sự việc với căng
thẳng gia tăng trong khu vực
Cuối cùng, đến tháng 5/2012, chính phủ Ấn Độ tuyên bố tạm rút khỏi lô
128. Nhưng đến tháng Chín cùng năm họ đã thay đổi quyết định và tái
khoan dầu ở lô trên trước đề nghị của Việt Nam.
Quan điểm của Ấn Độ trong các cuộc gặp tại Diễn đàn An ninh Khu vực
ASEAN đã không làm vừa lòng Trung Quốc. Ấn Độ đã tuyên bố rằng,
nước này không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ, luật pháp của
Liên hiệp quốc phải được tôn trọng và tự do hàng hải phải được tuân
theo. Tóm lại, sự việc này đã gây ra căng thẳng trong quan hệ giữa Ấn -
Trung, khi Ấn Độ giữ lập trường rằng việc khoan dầu thuần túy là thương
mại, còn Trung Quốc lại nghi ngờ về mối quan hệ giữa Ấn Độ, Mỹ và Việt
Nam.
Ông có nghĩ rằng việc cải thiện mối quan hệ giữa Ấn Độ và Trung
Quốc, đặc biệt là sau chuyến thăm được chào đón của Chủ tịch Tập Cận
Bình, sẽ là rào cản cho việc Ấn Độ tiếp tục thể hiện vai trò của mình
với Biển Đông?
Chủ tịch Tập Cận Bình đi thăm Ấn Độ vào tháng Chín năm nay. Các thỏa
thuận về kinh tế, thương mại, cũng như các lĩnh vực khác, đã được ký kết
trong chuyến thăm.
Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ và động thái TQ đóng quân ở Chumar
phía Tây đã làm thất vọng sự chờ đợi của cả hai phía. Ấn Độ không chấp
nhận ý tưởng về Con đường Tơ lụa trên biển của Trung Quốc, cũng như
Trung Quốc không đồng ý đầu tư vào Ấn Độ 100 tỷ đô la, như tuyên bố
trước đó. Biển Đông đã không được đề cập trong tuyên bố chung giữa hai
nguyên thủ.
Ông đánh giá thế nào về quan hệ hợp tác Ấn-Việt? Và những lĩnh vực nào mà cả hai bên cần tiếp tục nhấn mạnh và triển khai?
Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ truyền thống, kể từ khi Chủ tịch Hồ
Chí Minh thăm Ấn Độ vào những năm 1950, cũng như sự đáp lễ của Thủ tướng
Nehru. Biểu tượng này được củng cố bởi các động thái tiếp theo giữa hai
nước.
Trong khi thương mại và đầu tư còn ở mức khá thấp, nhưng cả hai lĩnh
vực này mới đây đã được hai phía nhấn mạnh cần phát triển. Vấn đề hợp
tác trên biển đã được đưa lên các diễn đàn gần đây với việc Việt Nam
chào mời các lô dầu với Ấn Độ, cũng như sự mở ra các điều kiện thuận lợi
ở Hải Phòng và Nahthrong.
Người ta chờ đợi rằng chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam sẽ củng cố
hơn nữa các mối quan hệ về kinh tế, quân sự và hàng hải giữa hai nước.
Xin cảm ơn ông.
Huỳnh Phan (thực hiện)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét