Ngư dân TQ đang bị tận dụng triệt để hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền
(GDVN) - Từ 2006, TQ bắt đầu cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính lớn để khuyến khích ngư dân đóng tàu to, khai thác xa bờ.
Báo Học giả ngoại giao có trụ sở tại
Nhật Bản ngày 25/10/2014 đăng tải bài viết của tác giả Zhang Hongzhou –
một học giả nghiên cứu hợp tác về chương trình nghiên cứu Trung Quốc tại
Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam (RSIS), trực thuộc Đại học công
nghệ Nanyang Singapore.
Nội dung bài báo đưa ra nhận định cá
nhân của tác giả khi cho rằng các vấn đề liên quan đến chiến lược của
giới cầm quyền Bắc Kinh không phải là những nhân tố duy nhất dẫn đến các
trường hợp va chạm giữa ngư dân Trung Quốc và lực lượng thực thi pháp
luật của các nước láng giềng thời gian gần đây.
Nhận thấy bài viết có thể cung cấp cho
độc giả một góc nhìn khác, nhỏ và chi tiết hơn (nhưng không phản ánh
toàn bộ bản chất tham lam của chính quyền TQ) về những gì đang thúc đẩy
ngư dân Trung Quốc ngày càng tham gia nhiều vào các chiến dịch, hoạt
động đánh bắt thủy hải sản tría phép tại một số vùng biển thuộc vùng đặc
quyền kinh tế (EEZ)của các nước láng giềng bên cạnh lý do chính là do
chính sách của Bắc Kinh thúc đẩy, cổ vũ.
Đây cũng là thông tin tham khảo giúp các
cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ khi gặp phải các trường hợp tàu cá nước ngoài vi phạm pháp luật,
đánh bắt cá trái phép trên các vùng biển của nước ta chủ động tìm hiểu,
nhận biết lý đo để từ đó đưa ra các biện pháp xử lý thích đáng, hợp
tình, hợp lý đối với tàu thuyền của ngư dân nước ngoài, trong đó có tàu
thuyền của ngư dân TQ.
![]() |
| Ngư dân TQ chống cự lực lượng bảo vệ bờ biển Hàn Quốc bằng gậy gộc, vũ khí |
Ngày 10/10, một ngư đân Trung Quốc bị
lực lượng bảo vệ bờ biển của Hàn Quốc sử dụng súng bắn chết khi gây ra
một vụ đụng độ xuất phát từ việc ngư dân TQ tổ chức đánh bắt cá trong
vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Hàn Quốc. Vụ việc này ngay sau đó đã
tạo ra căng thẳng ngoại giao và dư luận giữa Hàn Quốc và láng giềng có
công dân bị bắn chết.
Chỉ sau thời điểm 10/10/2014 chỉ 1 tuần,
lại xảy ra một sự việc đáng chú ý đó là cảnh sát biển Nhật Bản tiến
hành bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc vì con tàu ngày đã đánh
cá trái phép trên vùng biển gần quần đảo Ogasawara của Nhật.
Trong những năm gần đây, các vụ va chạm,
xung đột, bắt giữ như hai trường hợp ngư dân Trung Quốc ở Hàn Quốc và
Nhật Bản xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực. Số lượng các vụ việc
có sự liên quan của ngư dân Trung Quốc đang có chiều hướng gia tăng.
Các biến cố này là một trong những nhân
tố gây ra căng thẳng hàng hải giữa Trung Quốc và các quốc gia láng
giềng. Đôi khi, chúng là nguyên nhân chính tạo ra các cuộc đụng độ giữa
TQ và các nước khác.
Theo tác giả Zhang Hongzhou, để ngăn
chặn và giải quyết ổn thỏa các vụ việc va chạm liên quan đến ngư dân
Trung Quốc, điều quan trọng mà các quốc gia láng giềng của TQ cần biết
đó là thấu hiểu các nhân tố thúc đẩy sự hiện diện ngày càng nhiều của
tàu cá Trung Quốc trên các vùng biển giáp ranh cũng như ở một số vùng
biển nóng đang tồn tại các tranh chấp chủ quyền, thậm chí là cả trong
vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia cùng khu vực.
Bênh cạnh các phân tích, phán đoán của
giới nghiên cứu, học giả quốc tế cho rằng chính quyền trung ương TQ là
lực lượng chủ mưu, chủ động vũ khí hóa, trang bị, hỗ trợ cho ngư dân
nước này để họ có thể yên tâm hoạt động ở các vùng biển tranh chấp, thậm
chí cả trong các vùng EEZ của các nước yếu thế hơn để thông qua đó
củng cố yêu sách chủ quyền (yêu sách đường lưỡi bò phi lý ở Biển Đông,
tranh đoạt đảo Senkaku trên biển Hoa Đông với Nhật Bản).
Ngoài những lý do như sự bành trướng của
tàu cá Trung Quốc trên các vùng biển tranh chấp mà TQ cố tuyên bố chủ
quyền xuất phát từ âm mưu chính trị chiến lược do Bắc Kinh điều khiển
dựa trên mô hình được tờ Học giả ngoại giao trích dẫn gọi là “đánh cá,
hộ vệ, tranh cướp và chiếm đóng” chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm các
nguyên nhân khác như:
Các cân nhắc chiến lược
Mang bản chất của các hoạt động xuyên
biên giới, từ xưa đến nay ngành đánh bắt, khai thác hải sản đôi khi mang
theo cả các thông điệp chính trị và ngoại giao, đặc biệt là tại các
vùng nước thực tế đang có tranh chấp chưa phân thắng bại.
Trong hàng thập kỷ nay, thực tế này
không còn gì gọi là bí mật, Trung Quốc cũng giống như một số nước khác
sử dụng lực lượng ngư dân để củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình.
Chỉ có điều, TQ hành động trắng trợn, ngang ngược và ngày càng quyết
liệt và vô nhân đạo hơn.
Tại Trung Quốc, các nghiệp đoàn nghề cá
có tổ chức thường nhận được sự hỗ trợ kể cả về chính trị lẫn tài chính
để tiến hành mở rộng các hoạt động đánh bắt cá ở các khu vực biển có
tranh đoạt với nước khác.
Đối với các sự kiện mang nhiều màu sắc
chính trị cũng vậy, ngư dân TQ được hỗ trợ rất lớn để phục vụ chủ trương
của nhà cầm quyền. Sự kiện Trung Quốc ngang nhiên đưa dàn khoan dầu Hải
Dương 981 vào hoạt động trong thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của
Việt Nam trong tháng 5/2014 vừa qua cũng là một ví dụ điển hình.
Trong sự kiện triển khai trái phép giàn
khoan dầu nước sâu vào thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã sử dụng
lực lượng tàu cá của ngư dân nước này để hình thành vòng vây yểm hộ, cản
phá hoạt động thực thi pháp luật của tàu chức năng Việt Nam bên cạnh
các tàu chiến, máy bay quân sự làm nhiệm vụ canh giác, phản ứng khi có
biến động.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng
không phải tất cả các hoạt động liên quan đến ngư dân TQ ở các vùng EEZ,
vùng tranh chấp ở nước ngoài đều do chính quyền Bắc Kinh xúi rục, một
số ít trường hợp trong số chúng xuất phát từ các động cơ tự phát như mục
tiêu kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hải sản của dân địa phương…
Để củng cố cho nhận định của mình, tác
giả Zhang Hongzhou cho rằng, đầu tiên, phải thừa nhận rằng tất cả các
biến cố liên quan đến tàu thuyền của ngư dân Trung Quốc không chỉ xảy ra
ở các vùng biển có tranh chấp liên quan đến những tuyên bố yêu sách (vô
lý) của Trung Quốc trên Biển Đông và Biển Hoa Đông.
Những sự cố này xảy ra ở nhiều khu vực
khác nhau từ Biển Đông (với Việt Nam, Philippines) đến Biển Hoa Đông
(với Nhật Bản, Hàn Quốc) và thậm chí cả ở vùng biển giáp Nga, Bắc Triều
Tiên, Indonesia và Palau.
Thứ hai, thực tế là quan hệ giữa chính
quyền Trung Quốc và các nghiệp đoàn đánh bắt hải sản ở nước này cũng hết
sức phức tại. Chính quyền TQ nhiều khi cũng bất lực, cảm thấy khó khăn
để tiến hành ngăn chặn, kiểm soát ngư dân nước này không đi đánh cá trái
phép.
Trái lại, ngư dân Trung Quốc không phải
lúc nào cũng tin miệng chính quyền, trong chiến dịch chống tham nhũng
mới đây nhất nhằm vào các quan chức quản lý đánh bắt cá của nước này ở
tỉnh đảo Hải Nam, hàng tá quan chức TQ đã bị buộc tội biển thủ và ăn bớt
tiền hỗ trợ nghiên liệu mà chính quyền TQ cung cấp cho ngư dân Hải Nam.
Thứ ba, nhiều trường hợp chính quyền
Trung Quốc không trả tiền đền bù và hỗ trợ tài chính cho một số trường
hợp ngư dân của nước này khi đánh cá trái phép ở nước ngoài bị bắt giữ
và phá hủy tài sản mặc dù trước đó cũng có các trường hợp sau khi quay
trở về nước, ngư dân TQ bị bắt, phá tài sản thường được chính quyền hỗ
trợ các khoản trợ cấp không nhỏ.
Thứ tư, trong giai đoạn hiện nay, trong
lúc Trung Quốc dường như ngày càng quyết liệt hơn khi muốn thể hiện các
tuyên bố chủ quyền (bất hợp pháp ở Biển Đông) của mình ở Biển Đông và
Biển Hoa Đông thì mục tiêu duy trì ổn định hàng hải khu vực cũng vấn là
một trong những mục tiêu được Bắc Kinh ưu tiên hàng đầu.
Hơn nữa, hiện nay, với sự quay lại châu Á
– Thái Bình Dương của ảnh hưởng Mỹ, Bắc Kinh thừa hiểu rằng sẽ là điều
bất lợi để đơn phương tiến hành các hành động thúc đẩy như dân của nước
này đến các vùng biển tranh chấp để quấy lên căng thẳng, chuốc thêm oán
ghét từ các quốc gia láng giềng.
Đây cũng có thể là một phần (nhưng không
phải toàn bộ) mục đích của việc Bắc Kinh đưa ra lệnh cấm ngư dân nước
này đến đánh bắt cá gần khu vực bãi cạn Scarborough sau xảy ra đụng độ
giữa nước này và Philippines vào năm 2012.
Nó cũng có thể là nguyên nhân khiến Bắc
Kinh đột ngột không cung cấp hỗ trợ nhiên liệu cho ngư dân đến quần đảo
Senkaku trên Biển Hoa Đông đánh cá mặc dù ngư dân và giới học giả nước
này đang rất trông chờ điều đó.
![]() |
| Tàu cá TQ kết thành khối hòng chống lại sự truy bắt của bảo vệ bờ biển Nhật Bản (ảnh tư liệu minh họa) |
Theo số liệu thống kê của Trung Quốc,
năm 1985, gần 90 % tổng sản lượng đánh bắt hải sản của Trung Quốc đều
được khai thác từ các khu vực ven bờ. Sản lượng này chủ yếu được ngư dân
TQ đánh bắt tại hai vùng biển Bột Hải và Biển Vàng. Việc đánh bắt xa bờ
khi ấy chỉ diễn ra với số lượng nhỏ tại khu vực Biển Hoa Đông và quanh
Biển Đông (chiếm khoảng 10%).
Đến năm 2002, sản lượng đánh bắt gần bờ
của Trung Quốc giảm xuống 65% trong khi đó sản lượng cá đánh bắt xa bờ
đã tăng lên 35%. Kể từ mốc 2002 trở đi sản lượng đánh bắt xa bờ của
Trung Quốc liên tiếp tăng và lấn át sản lượng đánh bắt gần bờ mặc dù
trong năm 2002 TQ không công số số liệu chính thức về sản lượng khai
thác hải sản gần và xa bờ.
Theo tác giả Zhang Hongzhou, sự thay đổi
về cơ cấu, sản lượng đánh bắt từ gần bờ chuyển sang xa bờ của ngư dân
TQ là kết quả của nhiều tác động hợp lại trong đó nhấn mạnh hai yếu tố
là sức ép thị trường và chính sách đánh bắt cá của chính quyền TQ.
Khi thu nhập tăng cao cũng là lúc người
Trung Quốc ngày càng tiêu thụ nhiều hơn các sản vật từ biển. Trong hai
thập kỷ qua, bình quân tiêu thụ hải sản của người Trung Quốc đang tăng
khoảng 100%.
Nhu cầu tiêu thụ thủy hải sản tăng nhanh
chóng buộc phải đáp ứng bằng các hoạt động nuôi trổng, đánh bắt hải
sản xa bờ. Thực tế ở xã hội TQ hiện nay, tầng lớp TQ càng ngày càng mở
rộng, chính tầng lớp này là khách hàng ưu thích của các loại sản phẩm
hải sản đánh bắt xa bờ vốn được cho là an toàn hơn so với các sản phẩm
được người TQ nuôi, trồng tồn dư nhiều loại chất cấm.
Sản lượng đánh bắt gần bờ của TQ cũng bị
tác động mạnh bởi các nhân tố như nhu cầu tiêu thụ quá lớn, môi trường
biển gần ô nhiễm cá không sống nổi hoặc xuất hiện ít hơn. Vì lợi nhuận
kinh tế mà ngư dân TQ bị kích thích, họ muốn đến các vùng biển xa, thậm
chí tới cả những nơi đang tranh chấp và vùng EEZ của nước khác để khai
thác bất hợp pháp.
Nhu cầu tiêu thụ hải sản của một thị
trường gồm hơn 1,4 tỷ dân tại Trung Quốc không phải là lý do duy nhất
dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc trong lĩnh vực khai thác hải sản tại TQ.
Trung Quốc không chỉ là nơi tiêu thụ,
sản xuất các sản phẩm thủy, hải sản lớn nhất thế giới mà nước này cũng
là một trong những quốc gia có ngành công nghiệp xuất khẩu các sản phẩm
thủy, hải sản lớn nhất hành tinh.
Thêm vào đó, trong những năm gần đây, ở
Trung Quốc xuất hiện lĩnh vực kinh doanh mới trong đó lấy các sản vật từ
biển như vỏ sò, san hô cỡ lớn làm măt hàng kinh doanh. Loại hàng hóa
sau khi được thợ thủ công gia cố này được bán cho các nhà giàu muốn sử
dụng các loại sản vật biển này làm đồ trang trí, quà tặng biếu xén lẫn
nhau. Với những sản vật này, không nơi nào thích hợp hơn là những bãi
đá, đảo ở Biển Đông.
Một ví dụ cho thấy, trong vài năm gần
đây, chính vì nhu cầu khai thác vỏ sò lớn để làm đồ thủ công tăng mạnh
mà tại một thị trấn trên đảo Hải Nam Trung Quốc đã hoàn toàn bỏ nghề
đánh cá truyền thống chuyển sang chuyên săn tìm các loại sò lớn để lấy
vỏ về bán và sản xuất đồ thủ công.
Trong khi lượng sò vỏ lớn sinh sống ven
biển TQ ngày càng ít đi do khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường thì
ngư dân TQ tự tìm các mon men đến các vùng biển xa, thậm chí của nước
ngoài để đánh bắt trộm.
Chính sách của chính quyền
| Đánh bắt hải sản xa bờ được chính quyền TQ hỗ trợ (ảnh minh họa) |
Từ cuối những năm 1990, Trung Quốc bắt
đầu đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá đối với một phần Biển Đông,
tuy nhiên, do biết vùng quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt
Nam) không phải của mình kiểm soát nên TQ không cấm ngư dân đến đây đánh
cá mà ngược lại còn khuyên khích ngư dân xuống khu vực này đánh bắt cá
một cách bất hợp pháp.
Trung Quốc làm như vậy để đạt hai mục
đích, thứ nhất là bảo vệ nguồn thủy sản trên biển Đông (khu vực quanh
đảo Hải Nam cũng như vùng đánh bắt ở Hoàng Sa mà TQ đã chiếm của Việt
Nam, tự nhận đó là của mình, đơn phương ban lệnh trái phép), ép ngư dân
của nước này muốn đánh cá thì hay xuống vùng quần đảo Trường Sa (chủ
quyền của VN) để đánh bắt.
Trước những năm 90, Trung Quốc từng có
chủ trương thu nhỏ các hạm đội đánh bắt cá đồng thời hướng dẫn ngư dân
nước này chuyển đổi ngành nghề, trong đó nhấn mạnh chuyển sang các công
việc trên bờ.
Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1990 đến
2006 Trung Quốc đã ban hành các quyết định lịch sử, trong số đó có việc
bỏ thuế, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Riêng lĩnh vực khai thác hải sản
được đầu tư, chú ý mạnh, TQ bắt đầu (từ 2006) cung cấp các khoản hỗ trợ
tài chính lớn để khuyến khích ngư dân đóng tàu to, khai thác xa bờ.
Các khoản hỗ trợ tài chính được chính
quyền TQ chuyển đến tay các chủ tàu cá theo định kỳ hàng năm dựa trên
chỉ số mã lực hay công suất của con tàu mà người đó sở hữu. Gần như
những chủ tàu này không phải bận tâm đến tiền mua nhiên liệu vận hành
tàu cá.
Chính sách này của TQ đã tạo ra một cú
hích mạnh, khuyến khích các ngư dân bỏ tàu cũ đóng tàu mới to, công suất
lớn hơn tàu cũ để nhận tiền trợ cấp. Theo một số thống kê số chủ tàu
nhận trợ cấp nhiên liệu tử chính phủ Trung Quốc đã tăng 7 lần từ mốc
2006 đến 2012. Riêng năm 2012, số trợ cấp mà chính quyền TQ cấp cho ngư
dân nước này đã chạm mốc 3,8 tỷ USD.
Trợ cấp thông qua chi phí nhiên liệu của
TQ hiên nay chiếm thành phần chính trong hoạt động hỗ trợ của chính
quyền đối với ngành khai thác hải sản TQ. Chính sách của Bắc Kinh hiện
cũng được một số quốc gia láng giềng của nước này áp dụng đối với các
hạm đội đánh bắt cá trong nước.
Tại TQ, chi phí để mua nhiên liệu duy
trì hoạt động đánh bắt cá xa bờ của ngư dân chiếm khoảng 1 nửa tổng thu
nhập bình quân của họ. Điều này cho thấy sự hỗ trợ về tài chính của
chính quyền TQ đối với các hạm đội đánh cá xa bờ của nước này là cực
lớn, đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc tàu cá của TQ xuất hiện ở
khắp nơi, thậm chí cả ở các vùng EEZ của nước khác.
Tóm lại, thông qua bài viết của học
giả, Zhang Hongzhou chúng ta có thể nhận thấy rằng, những ngư dân Trung
Quốc vì lợi ích mưu sinh, tự phát, tự tìm cách tiến hành các hoạt động
đánh bắt xa bờ, đánh bắt trộm hải sản tại các vùng biển không phải của
Trung Quốc, thậm chí trong vùng EEZ của nước ngoài không quá nhiều.
Thứ đánh lo ngại và đang ngày càng phát
triển đó là những ngư dân đang được chính quyền TQ chỉ huy thông qua các
khoản hỗ trợ rất lớn. Họ sẵn sàng, được cung cấp phương tiện, điều kiện
để đến các vùng biển xa thuộc nơi đang có tranh đoạt, thậm chí là vùng
EEZ của nước khác để đánh bắt cá, hải sản trái phép.
Thông qua hoạt động của lực lượng ngư
dân, Trung Quốc nhân cơ hội đó phô trương thanh thế, củng cố các tuyên
bố chủ quyền bất chấp tất cả luật pháp quốc tế, quy định cộng đồng để
tìm kiếm lợi ích, thực hiện tham vọng riêng của mình.
Chính vì thế, theo dự đoán, trong thời
gian tới, tàu cá của ngư dân TQ vẫn sẽ tiếp tục lần mò đến các vùng biển
xa không phải của mình để đánh bắt trộm hải sản, thông qua đó là truyền
tải, hỗ trợ các thông điệp, tuyên bố, hành động gia cố cái gọi là "chủ
quyền và yêu sách lãnh thổ" bất hợp pháp của TQ và đây sẽ là bài toán
khó giải, khó ứng phó của những quốc gia láng giềng với TQ trong khu
vực.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét