Trung Quốc tạo sức ép: Việt Nam hãy nỗ lực thay đổi
Ngành dệt may đang chịu sức ép từ cơ
hội TPP nên có cố gắng thay đổi nhưng thay vì trước đây nhập thì nay mua
của TQ trên đất Việt.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi
Lan không khỏi lo lắng trước những biểu hiện lệ thuộc kinh tế của Việt
Nam vào Trung Quốc trong suốt thời gian qua. Theo bà Lan, những biểu
hiện này đang góp phần chứng minh những ràng buộc trong việc đưa ra các
quyết định cho nền kinh tế Việt Nam.
PV: -Thưa bà,
mới đây tại Hội thảo “Các đường hướng của TQ trong quan hệ với ASEAN và
Việt Nam” GS Christopher Hughes, Trưởng ban Quan hệ quốc tế Trường Kinh
tế và Khoa học chính trị London có đưa ra nhận định trên bình diện toàn
cầu ngày càng có nhiều quốc gia bày tỏ lo ngại trước sự trỗi dậy của
TQ. Trong đó chiến lược thường thấy của TQ là sử dụng kinh tế như một
công cụ trong việc tác động đến các quốc gia khác. TQ sẽ tìm cách buộc
các quốc gia khác phụ thuộc họ về kinh tế và từ đó sẽ phụ thuộc các vấn
đề khác. Đặc biệt với các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với TQ, công
cụ này sẽ được sử dụng triệt để. Bà bình luận gì về nhận định này? Soi
chiếu về Việt Nam, các học giả quốc tế đã nhận định thế nào?
Bà Phạm Chi Lan: -
Tôi nghĩ rằng nhận định này hoàn toàn thỏa đáng và đúng với thực tế.
Cách đây mấy năm ở Châu Phi đã rộ lên những lời phàn nàn của công chúng
trí thức và những người hiểu biết. Họ nói các nước Châu phi nhận viện
trợ của Trung Quốc thì thường là mang tới những hệ quả xấu.
Lý
do là vì các dự án đầu tư của Trung Quốc thường là không đặt ra các
điều kiện quá lớn như với các tổ chức tài chính quốc tế khác.
Với
Trung Quốc thì họ mang toàn bộ thiết bị, con người sang tự làm từ A đến
Z. Như vậy địa phương gần như không được tham gia gì.
Thứ hai là các địa phương thường cho Trung Quốc quyền khai thác khoáng sản rất lớn.
Thực
chất đây là sự đánh đổi giữa dự án hạ tầng nào đó mà Trung Quốc viện
trợ và họ được quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên. Thế nhưng, việc
khai thác tài nguyên đó nhiều khi còn mất nhiều hơn so với các dự án mà
họ mang lại về tiền.
Và thứ ba là có những ràng
buộc để Trung Quốc bảo vệ những lãnh đạo các quốc gia đó để tiếp tục hợp
tác làm ăn cho tới khi cường quốc này muốn.
Điều này đúng như GS Christopher Hughes đã nêu là dùng kinh tế để tạo ra những trói buộc khác và có khi cả chính trị nữa.
Soi
chiếu với Việt Nam tôi cũng thấy không ít biểu hiện về việc ràng buộc
trong các mối quan hệ có chi phối đến kinh tế và ngược lại.
Tôi
thấy rằng quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc có một sự lệ
thuộc rất không bình thường mà không phải giống như mối quan hệ với các
nền kinh tế khác.
Ở đây có những yếu tố không bình
thường, trước hết là để quan hệ kinh tế ảnh hưởng, tác động quá nhiều
đến các quyết định về kinh tế.
Ví dụ như có dự án
giao thẳng cho Trung Quốc làm không qua bất cứ một quy trình đấu thầu mở
hay chọn lựa gì hết. Điều đó dẫn đến 90% các dự án tổng thầu tại Việt
Nam đều rơi vào tay Trung Quốc. Thế còn chất lượng các dự án đó như thế
nào thì phải nói thật là mới đây, nhiều nơi mới dám nói ra, kể cả những
nơi từng bị thua thiệt, phải ngậm đắng nuốt cay.
Những dự án đấu thầu một kiểu đến khi giá đội lên gấp 2-3 lần vẫn phải cắn răng trả, trong khi thời gian lại kéo dài thêm.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà khiến cho Việt Nam bị mất đi các cơ hội tiếp cận với các nhà thầu ưu tú, chất lượng.
Thêm
nữa điều này cũng làm hỏng quy trình của Việt Nam được quy định trong
pháp luật, ví dụ như quy trình đấu thầu, quyết định dự án.
Ít
nhất với các dự án khác có thể xem nó đúng quy trình hay không nhưng
với các dự án trao cho Trung Quốc thì bỏ qua những quy định bình thường
nên bây giờ có muốn truy trách nhiệm cũng không làm được. Sự phá quy
trình này đang khiến tạo ra khoảng trống không minh bạch rất lớn.
Thứ ba là từ đây xảy ra tình trạng tham nhũng, móc ngoặc, đi đêm làm hư hỏng thêm bộ máy và làm lệch sự phát triển.
Tình
trạng phá rào, vượt luật cũng xảy ra ngay trong cách đưa người lao động
Trung Quốc vào không phép tại nhiều nơi, nhiều dự án khác nhau.
Với các dự án của nước khác còn kiểm soát và yêu cầu họ thực hiện đúng phép tắc, còn với các dự án của Trung Quốc thì không.
|
| Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông do nhà thầu Trung Quốc triển khai bị đội vốn 100%. |
PV: - Sau
sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, những người có trách nhiệm ở Việt Nam
cũng đã nhìn ra hệ lụy của việc phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc và đặt
ra vấn đề phải tìm kiếm những thị trường mới.
Tuy
nhiên, số liệu thống kê vẫn chứng tỏ, nhập siêu của Việt Nam từ Trung
Quốc vẫn rất cao. Nhìn ở khía cạnh xuất khẩu, việc hạn chế nhập khẩu của
Trung Quốc khiến nhiều ngành quan trọng ở Việt Nam điêu đứng (cao su là
ví dụ điển hình).
Đâu là nguyên nhân của
tình trạng, quyết tâm không đi đôi với thực tế nói trên? Qua đó, có thể
thấy sự khó khăn trong việc giảm lệ thuộc từ Trung Quốc như thế nào và
vì sao?
Bà Phạm Chi Lan: - Tôi nghĩ ở đây về góc độ doanh nghiệp và các nhà sản xuất cũng có lỗi. Họ không chịu thay đổi.
Làm
ăn với Trung Quốc đang có những hệ lụy là tạo ra thói quen xấu cho
người Việt là làm với những điều kiện dễ dãi. Hai bên ký hợp đồng với
nhau mà không cần đếm xỉa đến chất lượng. Kể cả có những việc làm không
đúng theo hợp đồng cũng vẫn bán được hàng thành ra họ lười đi, không
chịu cố gắng để vươn lên đạt chuẩn. Ít nhất trong nội bộ ASEAN người ta
cũng quy định về chất lượng hàng hóa nhưng hàng bán cho Trung Quốc thì
chất lượng kém hơn rất nhiều.
Ngay như sản phẩm chè
bán cho Trung Quốc, họ xúi các doanh nghiệp Việt trộn bùn đất vào chè
thì cũng nghe theo họ. Như vậy một thói quen làm hàng ẩu, chất lượng kém
được dần xây dựng thành nếp tại nhiều doanh nghiệp Việt, cốt là bán
được hàng.
Chính thói quen này gây khó khăn khi
doanh nghiệp muốn chuyển hàng sang bán ở thị trường khác. Uy tín không
có, cách làm cũng không muốn thay đổi thì làm sao có thể mạnh dạn tìm
kiếm thị trường mới?.
Còn về phía nhà nước, đáng ra
khi nhìn ra vấn đề thì cần đưa ra những yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật để
ngăn hàng xấu của Trung Quốc vào Việt Nam, kể cả hàng rào này có đánh
vào doanh nghiệp Việt Nam thì cũng vẫn nên làm để buộc doanh nghiệp Việt
Nam phải vượt lên. Không thể để tình trạng nuông chiều một vài doanh
nghiệp làm ẩu để làm hỏng uy tín chung của Việt Nam, giảm nỗ lực của
cộng đồng.
Thế nhưng việc này đang bị bỏ qua. Hàng
rào kiểm soát đang bị thả lỏng, tình trạng buôn lậu vẫn còn và những dễ
dãi trong khai thác tài nguyên cũng vẫn xảy ra.
Nhiều
doanh nghiệp đã từng nói hiện nay nếu muốn xuất khẩu khoáng sản thô
sang các nước rất khó mà chỉ có thể bán được cho Trung Quốc. Còn nếu bán
cho nước khác thì phải đầu tư công nghệ chế biến doanh nghiệp lại không
làm được.
Thế nhưng vấn đề này vẫn tồn tại nhiều năm nay. Thực sự tôi thấy có gì đó rất kỳ cục.
PV: - Trong
những tháng vừa qua, theo quan sát của bà, doanh nghiệp thuộc khu vực
nào, sản xuất ngành hàng nào nỗ lực hơn cả trong việc giảm phụ thuộc nói
trên? Đó có phải là một lối thoát mà Việt Nam cần nhìn vào đó để điều
chỉnh đường hướng, chính sách kinh tế hay không và cụ thể như thế nào,
thưa bà?
Bà Phạm Chi Lan: -
Tôi thấy ngành dệt may có vẻ đang cố gắng thúc đẩy đầu tư vào ngành dệt.
Song tôi e ngại rằng nếu không cẩn thận thì đầu tư vào ngành dệt lại
theo cách các doanh nghiệp bán hàng dệt ở Trung Quốc dỡ nhà máy mang
sang Việt Nam.
Họ sẽ mang thiết bị vào và khai thác
nhân công giá rẻ tại Việt Nam. Họ có thể khoác lên mình dự án đó những
dự định đẹp đẽ rồi được nhận ưu đãi. Và thay vì Việt Nam mua phụ liệu
cho ngành may từ Trung Quốc đến 70-80% thì nay mua của Trung Quốc tại
đất Việt Nam.
Tôi rất muốn động viên các doanh
nghiệp Việt Nam bắt tay phối hợp với nhau và nhà nước tạo điều kiện tài
chính cho vay dài hạn để khuyến khích đầu tư vào ngành dệt. Nghĩa là
Việt Nam phải có ngành dệt của mình, có được doanh nghiệp sản xuất phụ
liệu chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào đầu tư của nước ngoài.
Ngành
này đang bị sức ép từ cơ hội TPP nên có cố gắng thay đổi nhưng mới chỉ
dừng ở mức kêu gọi đầu tư nước ngoài. Đáng buồn là cố gắng này chưa đủ
để thoát khỏi hoàn toàn sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà chỉ thay đổi cách
phụ thuộc mà thôi!
Xin trân trọng cảm ơn bà về những chia sẻ!
Bích Ngọc (Thực hiện)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét