Tàu cấp tỉnh TQ sẽ làm gia tăng rủi ro đối đầu với láng giềng
(GDVN) - Mấy năm qua, Bắc Kinh luôn khuyến khích và trao quyền cho các
tỉnh duyên hải tham gia tuần tra vùng biển nước sâu, nhưng nó liên quan
đến quan hệ với các nước.
![]() |
| Tàu hải cảnh Trung Quốc (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
Tờ "China in Brief" Quỹ Jamestown Mỹ
ngày 10 tháng 9 có bài viết cho rằng, năm 2013, Trung Quốc thông qua lập
pháp, sáp nhập 4 trong số 5 cơ quan chấp pháp trên biển vào Cục cảnh
sát biển Trung Quốc mới thành lập - đặt dưới sự quản lý của Cục hải
dương quốc gia Trung Quốc. Các nhà quan sát nhanh chóng đặt nó vào bối
cảnh Bắc Kinh tìm cách thúc đẩy chủ trương trên biển của họ ở châu Á.
Quá trình tập trung quyền lực này còn
đang tiến hành, nhưng nó đã che lấp một động thái đáng chú ý khác. Cách
đây không lâu, cái mà Bắc Kinh gọi là "bảo vệ quyền lợi biển" hầu
như còn hoàn toàn là chức trách của cơ quan cấp trung ương của Trung
Quốc.
Khoảng từ năm 2010 trở đi, lực lượng
"bảo vệ quyền lợi biển" của 11 tỉnh, thành duyên hải - trước đây chỉ đáp
ứng hoạt động lái tàu nhỏ, thuyền nhỏ ở duyên hải, bắt đầu có ngày càng
nhiều tàu tuần tra lượng giãn nước lớn chạy tới vùng biển tranh chấp
(thậm chí vào vùng biển chủ quyền của nước khác) tiến hành đối đầu với
hoạt động của nước ngoài. Động thái này đáng để chú ý, nó gây ảnh hưởng
tới Trung Quốc và các nước có biển khác ở châu Á.
![]() |
| Tàu hải cảnh Trung Quốc (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
Trước năm 2010, việc chế tạo tất cả các
tàu lượng giãn nước tăng lớn mới đều do cơ quan trung ương Trung Quốc
tiến hành. Bắc Kinh thực hiện chính sách ngoại giao ở vùng biển sâu, các
tỉnh duyên hải thực hiện nhiệm vụ cốt lõi thứ yếu của hải giám - bảo vệ
môi trường biển.
Mãi đến năm 2003, Quảng Tây, Hải Nam và
Thượng Hải đều chưa lập ra cơ quan hải giám liên quan. Ngư chính Trung
Quốc, một cơ quan "bảo vệ quyền lợi biển" quan trọng khác của Trung Quốc
cũng được phân công tương tự.
Từ năm 2009, Cục hải dương quốc gia
Trung Quốc bắt đầu áp dụng biện pháp làm thay đổi hiện trạng, khuyến
khích cơ quan hải giám các tỉnh đóng vai trò tích cực hơn. Nguyên nhân
của quyết định này có lẽ là Trung ương hy vọng các tỉnh quyên hải -
những người có lợi ích chủ yếu trên biển - đảm đương một phần gánh nặng
tài chính.
Năm 2009, lực lượng hải giám đến từ
Quảng Đông, Liêu Ninh và Quảng Tây bắt đầu tiến hành hoạt động "bảo vệ
quyền lợi biển". Cơ quan ngư chính cấp tỉnh cũng bắt đầu tuần tra
thường lệ. Nhưng khi đó lực lượng hải giám và ngư chính cấp tỉnh đa
số có trang bị kém, đều sử dụng tàu cỡ nhỏ, thời gian hoạt động liên tục
ngắn, rất yếu ở vùng biển quốc tế.
Sau khi Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng
tàu cá Trung Quốc ở vùng biển đảo Senkaku vào năm 2010, Bắc Kinh tuyên
bố kế hoạch trợ giúp cơ quan hải giám cấp tỉnh mua sắm 36 tàu tuần tra
mới, tiến một bước đi quan trọng hướng tới giải quyết vấn đề mang tính
hạn chế của thiết bị tàu thuyền địa phương.
Mấy năm qua, Bắc Kinh luôn khuyến khích
và trao quyền cho các tỉnh duyên hải tham gia hoạt động tuần tra vùng
biển nước sâu do Trung ương thực hiện, được hưởng ứng tích cực. Đối với
việc Trung Quốc lấy lực lượng chấp pháp biển làm thủ đoạn "trị quốc", sự
phát triển này có ý nghĩa đáng chú ý.
Trước hết, xu thế này không có lợi cho
Bắc Kinh tập trung kiểm soát lực lượng chấp pháp biển. Cục hải dương
quốc giả tiến hành "chỉ đạo" địa phương, đây là loại quan hệ tế nhị. Hầu
như chắc chắn liên quan đến đàm phán giữa Trung ương và các tỉnh địa
phương, sự quan tâm của Trung ương là "bảo vệ giá trị chiến lược lớn của
chủ trương lãnh thổ" sự quan tâm của địa phương là đi các "đảo tranh
chấp xa xôi" tuần tra, bản thân lại hoàn toàn không có vấn đề sinh ra từ
lợi ích trực tiếp.
Sự phân tán của cơ quan "bảo vệ quyền
lợi biển" cấp tỉnh cũng sẽ gây ra lãng phí. Sự phối hợp giữa Trung ương
và địa phương có thể bị cản trở bởi các tiêu chuẩn và trang bị khác
nhau.
Thứ hai, tuần tra vùng biển có tranh
chấp hoặc theo dõi tàu do thám nước ngoài, không chỉ là hành vi gây
căng thẳng, trên thực tế còn là đang thực hiện chính sách ngoại giao
của Bắc Kinh. Vì vậy, việc phân cấp quyền lực nêu trên cũng có nghĩa là
đặc quyền của chính sách ngoại giao từ Trung ương phân xuống địa
phương.
Đối với việc thực hiện chức năng quan
trọng này, các tỉnh duyên hải chuẩn bị đến mức độ nào? Những nhân viên
trên biển tốt nhất đều muốn làm việc trong các đơn vị của Trung ương,
các địa phương có thể không thu hút và giữ lại được nhân tài. Nhân viên
không được huấn luyện đầy đủ có thể sẽ thiếu kiềm chế, tăng rủi ro - tàu
thuyền cấp tỉnh kéo Bắc Kinh vào đối đầu ngoại giao, thậm chí đối đầu
quân sự ngoài ý muốn.
Nhưng, đồng thời, thiếu kinh nghiệm và
chuẩn bị cũng làm cho thuyền viên Trung Quốc bị hoảng sợ và khiếp đảm,
từ đó làm suy yếu những nỗ lực "bảo vệ chủ quyền lãnh thổ" của Trung
Quốc.
Cuối cùng, tàu tuần tra cấp tỉnh được bổ
sung có thể là tuyến đầu trong nỗ lực quy mô lớn xây dựng hạm đội chấp
pháp biển lớn nhất thế giới của Bắc Kinh. Hiện nay, sự mất cân bằng lệ
thuộc hơn vào địa phương này có lẽ chỉ là tạm thời. Trong thời kỳ yên ổn
này, kỹ sư và nhà máy đóng tàu Trung Quốc đang thiết kế tàu lớn thế hệ
mới cho Trung ương.
![]() |
![]() |
| Tàu Hải cảnh-3306 Trung Quốc (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
![]() |
![]() |
| Tàu Hải cảnh-3307 Trung Quốc hạ thủy (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
![]() |
| Đặc tả mũi tàu hải cảnh Trung Quốc (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
![]() |
| Tàu Hải cảnh-1306 Trung Quốc đang lắp ráp (nguồn mạng sina Trung Quốc) |
![]() |
| Tàu Hải cảnh Trung Quốc (nguồn mạng sina Trung Quốc) |











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét