'Lá bài' mới trong mưu đồ đường lưỡi bò
Phải chăng TQ đang muốn lợi dụng vấn đề bảo vệ di sản dưới nước
nhằm hiện thực hoá yêu sách đường lưỡi bò và củng cố yêu sách chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông?
Trong trường hợp Trung Quốc vẫn tiếp tục theo đuổi hồ sơ đệ trình tại
Uỷ ban Di sản Thế giới (sau đây gọi là Ủy ban) UNESCO, quy trình xử lý
hồ sơ di sản liên quan đến khu vực tranh chấp tại Uỷ ban sẽ diễn ra như
thế nào và tác động của quyết định của Uỷ ban này đối với tranh chấp ra
sao?
TQ không dễ dàng vận động
Uỷ ban Di sản Thế giới là Ủy ban liên chính phủ có trách nhiệm xem
xét, đánh giá hồ sơ di sản thế giới do các quốc gia thành viên đệ trình
lên và quyết định liệu các di sản đó có đáp ứng các tiêu chí do Uỷ ban
lập ra nhằm đưa vào danh sách "di sản thế giới" cần được bảo vệ. Uỷ ban
hiện bao gồm 21 thành viên, trong đó có Việt Nam.
Thông thường, khi nhận được hồ sơ đề cử của các quốc gia thành viên,
Ban Thư ký sẽ chuyển các bộ hồ sơ đầy đủ tới những Cơ quan Tư vấn phù
hợp để đánh giá. Một hồ sơ đề cử sẽ phải đi qua một quy trình 1,5 - 2
năm từ khi nộp cho đến lúc nhận được quyết định của Ủy ban.
Điều quan trọng là quyết định của Ủy ban liên quan đến xét duyệt các
hồ sơ đề cử được đưa ra dựa trên đa số 2/3 số thành viên có mặt và bỏ
phiếu. Hiện nay, trong 21 thành viên của Ủy ban có Việt Nam, Malaysia và
Philippines đều là các bên tranh chấp ở khu vực quần đảo Trường Sa,
không có thành viên Trung Quốc. Do vậy, Trung Quốc không thể dễ dàng vận
động Ủy ban thông qua quyết định có lợi cho mình nhằm đưa Con đường Tơ
lụa trên Biển vào danh sách Di sản Thế giới (DSTG).
![]() |
| Đường lưỡi bò sai trái, vô căn cứ do Trung Quốc vạch ra |
Lợi dụng việc bảo vệ di sản?
Theo quy định tại Điều 11(3) Công ước UNESCO năm 1972, việc ghi một
di sản vào danh sách DSTG cần phải được sự đồng ý của quốc gia hữu quan
và việc ghi danh đó sẽ không làm ảnh hưởng đến quyền của các bên tranh
chấp nếu di sản nằm tại lãnh thổ là đối tượng yêu sách chủ quyền hay
quyền tài phán của nhiều hơn một quốc gia.
Theo đoạn 135 Văn bản Hướng dẫn Thực hiện Công ước năm 1972 (Văn bản
Hướng dẫn) do Ủy ban thông qua, các hồ sơ đề cử cho di sản xuyên biên
giới, nếu có thể, nên cùng được chuẩn bị và đệ trình bởi tất cả các quốc
gia thành viên cùng sở hữu di sản đó tuân thủ quy định của Điều 11(3)
nêu trên. Đặc biệt, các quốc gia thành viên có liên quan nên thành lập
một ủy ban quản lý hoặc một cơ quan tương tự để giám sát việc quản lý
toàn bộ di sản xuyên quốc gia đó.
Nếu con đường tơ lụa trên biển đi qua các vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa
(là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc) và quần đảo
Trường Sa (là đối tượng tranh chấp giữa Brunei, Malaysia, Philippines,
Trung Quốc (Đài Loan) và Việt Nam), Trung Quốc có nghĩa vụ tham vấn ý
kiến của các quốc gia liên quan đến tranh chấp và chỉ được phép đệ trình
di sản này lên Uỷ ban Di sản nếu được sự đồng ý của các quốc gia đó.
Tuy nhiên, Công ước không hề quy định rõ trường hợp nếu di sản thuộc
khu vực đang là đối tượng tranh chấp của nhiều hơn một quốc gia, và các
bên tranh chấp khác không chấp thuận việc một trong các bên tranh chấp
đơn phương đệ trình hồ sơ.
Vụ tranh chấp Đền Preah Vihear giữa Campuchia và Thái Lan là ví dụ
điển hình về quy trình xử lý hồ sơ của Ủy ban đối với di sản nằm trong
khu vực là đối tượng yêu sách của nhiều hơn một quốc gia. Từ đó có thể
thấy, việc Ủy ban quyết định đưa đền Preah Vihear vào danh sách DSTG có
thể nói là căn cứ trên 2 cơ sở: thứ nhất, ngôi đền đã được Toà Công lý
quốc tế ICJ xác định là thuộc chủ quyền của Campuchia từ năm 1962 và thứ
2, Thái Lan đã đồng ý với việc ghi danh ngôi đền vào Danh sách DSTG.
Riêng đối với khu vực tranh chấp, Uỷ ban khuyến khích Campuchia hợp
tác với Thái Lan trong việc bảo vệ giá trị của di sản, và thể hiện mong
muốn tương lai hai bên sẽ cùng đệ trình việc mở rộng khu vực biên giới
nhằm thể hiện đầy đủ giá trị của ngôi đền và khu vực xung quanh.
Như vậy, kinh nghiệm cho thấy, để một di sản có thể được ghi danh vào
Danh sách DSTG, trước hết, quốc gia đệ trình phải chứng minh được chủ
quyền đối với vùng lãnh thổ có di sản đó (căn cứ Điều 4 Công ước UNESCO
1972), hoặc trong khi chờ đợi một giải pháp cuối cùng, quốc gia đó cần
thiết phải tham vấn và có được sự đồng ý của quốc gia hữu quan (Điều
11.3).
Tương tự như vậy, trong quá trình tìm kiếm một giải pháp cuối cùng,
Trung Quốc nên tham vấn và cùng các bên cùng chuẩn bị hồ sơ và đệ trình
nhằm có biện pháp kịp thời bảo tồn các giá trị nổi bật của di sản văn
hoá dưới nước.
Một ví dụ khá thú vị đó là Trung Quốc đã từng kết hợp với Kazakhstan
và Kyrgyzstan cùng chuẩn bị và đệ trình hồ sơ di sản lên Uỷ ban yêu cầu
ghi danh Con đường Tơ lụa - Hệ thống đường nối Hành lang Trường An -
Thiên Sơn vào Danh sách Di sản Văn hoá Thế giới. Câu hỏi đặt ra là, vì
sao Trung Quốc đã từng có tiền lệ phối hợp với các quốc gia hữu quan về
việc chuẩn bị hồ sơ di sản xuyên biên giới, lại không tiến hành thủ tục
tương tự đối với Con đường Tơ lụa trên biển? Nếu không vì mục tiêu bảo
vệ di sản văn hoá dưới nước, phải chăng Trung Quốc đang muốn lợi dụng
vấn đề bảo vệ di sản dưới nước nhằm hiện thực hoá yêu sách đường lưỡi bò và củng cố yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông?
(Còn tiếp)
Nguyễn Ngọc Lan - Trần Hoàng Yến

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét