Thế giới này có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam?
(GDVN) - 'Thăng Long kia là thành nhỏ, để chống với kẻ địch bên ngoài
đến cướp nước chúng tôi, thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như
núi đó chính là nhân dân"
Giáo sư Trần Văn Giàu, Anh hùng Lao
động, Nhà giáo Nhân dân, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban
Hành chính Kháng chiến Nam Bộ - người dành cả cuộc đời nghiên cứu về
lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam đã rút ra nhận định: “Văn hóa dân
tộc ta có một sức mạnh lớn, lớn phi thường. Những kẻ địch của của dân
tộc Việt Nam cũng đã nhận thấy như thế, nhận thấy mà không làm gì được,
không đánh bại nổi… Chính ông Macnamara, đông đảo tướng tá, chính khách
Mỹ, tất cả các nhà báo đều từng thừa nhận rằng Mỹ thua Việt Nam về văn hóa”[1].
![]() |
| Giáo sư Trần Văn Giàu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Nguyễn Đình Toán |
Văn hóa dân tộc là mạch nguồn sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo
Khi khai quật những ngôi mộ cổ ở Việt
Nam, dù chủ nhân của nó thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công hay quan
lại, vua chúa, thì các nhà khảo cổ học, văn hóa học không chỉ tìm thấy
đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức mà còn tìm thấy công cụ sản xuất và vũ
khí: lưỡi cày, cái cuốc, cái đục… cùng với ngọn giáo, dao găm, mũi tên
đồng…
Điều đó chứng tỏ người Việt (từ người
đứng đầu đất nước đến mỗi người dân) luôn có ý thức thường trực trong
nét văn hóa ứng xử: lao động gắn liền với đấu tranh, dựng nước đi đôi
với giữ nước… Ngay cả khi chuẩn bị về với thế giới vĩnh hằng, người Việt
xưa vẫn luôn suy nghĩ phải “mang theo” công cụ để sản xuất và vũ khí để
chiến đấu chống quân thù, với tâm niệm “sống sao thác vậy”. Như thế đủ
thấy văn hóa giữ nước đã hằn sâu trong tâm trí người Việt từ bao đời
nay.
Việt Nam là một quốc gia đất không rộng,
người không đông, lại nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối thông
thương của khu vực, châu lục và thế giới, giàu có về tài nguyên thiên
nhiên nên luôn là đối tượng bị các nước lớn nhóm nhó, lấn chiếm, xâm
lược. Đứng trước những kẻ thù to lớn, hung bạo và thâm độc nhất thế giới
trong các thời đại; đồng thời nhận thức rõ quy luật nghiệt ngã của đấu
tranh vũ trang là “mạnh được yếu thua”.
Từ hàng ngàn năm trước, cha ông ta đã
xác định phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, của mọi người dân để xây
dựng đất nước, để chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu như chủ trương cả nước
đánh giặc “cử quốc nghênh địch”, “trăm họ là lính”, “động vi binh, tĩnh
vi dân”… Từ đó, hình thành nên nét văn hóa giữ nước trong từng người
dân Việt, với suy nghĩ “nước mất thì nhà tan” và hình thành quyết tâm
đánh giặc giữ nước của mọi tầng lớp nhân dân, bất kể già, trẻ, gái,
trai.
Với tiếng hô “Đánh” vang dội của các bô
lão tại Hội nghị Diên Hồng, với hàng vạn cánh tay xăm chữ “Sát Thát”
vung cao gươm giáo sáng lòa của tướng sỹ nhà Trần; với câu chuyện người
anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản luyện võ, hội quân đánh giặc với lá
cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân”; với các nữ tướng
Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Nguyễn Thị Định… với tinh thần
“giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”…
Trên thế giới này có dân tộc nào như dân
tộc Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn 1000 năm phải phải
trực tiếp cầm vũ khí chống ngoại xâm? Nếu chỉ tính từ khi có sử liệu ghi
chép rõ ràng thì từ cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược đến nay,
22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải trực tiếp kháng chiến suốt 13 thế kỷ,
trong đó có khoảng 100 cuộc khởi nghĩa quy mô lớn và hơn 10 cuộc kháng
chiến để giữ nước.
Trong thời Cổ đại và Trung đại, tất cả
các triều đại phong kiến thống trị ở phương Bắc: Tần, Hán, Tùy, Đường,
Tống, Nguyên, Minh, Thanh - các đế chế mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ -
ít nhất là một lần, nhiều là ba lần, xâm lược, thống trị nước ta.
Khi không trực tiếp gây chiến tranh xâm
lược thì họ cũng thường xuyên nhòm ngó, khiêu khích, lấn chiếm, gây mất
ổn định đối với nước ta. Đến thời cận hiện đại sau này, dân tộc ta từng
phải đương đầu với những đối phương đế quốc xâm lược mạnh bậc nhất thế
giới: Pháp, Nhật, Mỹ…
Một dân tộc sinh ra và phát triển trong
cuộc vật lộn cam go, quyết liệt mang tính sinh tồn, trải qua nhiều biến
cố to lớn như vậy, cho nên mọi hoạt động vật chất, tinh thần của dân tộc
ta luôn phải tuân theo quy luật xuyên suốt: dựng nước đi đối với giữ
nước. Điều đó khiến cho nhân dân Việt Nam sớm hình thành lòng yêu nước,
làm cho truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam chứa đựng những tư tưởng,
tình cảm, văn hóa giữ nước sâu sắc.
Lịch sử thế giới đã phải ghi nhận: Khi
các quốc gia - dân tộc khắp châu Á, châu Âu, từ các quốc gia nhỏ bé đến
các quốc gia đất rộng, người đông, luôn tự xưng là trung tâm Thiên hạ,
coi các nước xung quanh là man di, mọi rợ… đều phải quỳ gối thần phục
quân Mông Nguyên, thì chính dân tộc Việt Nam, tuy là nước nhỏ, dân ít đã
dũng cảm đứng lên ba lần đánh bại quân Nguyên Mông.
Kháng chiến chống quân Nguyên - Mông
thắng lợi, có lần sứ giả ta là Đào Tử Kỳ sang sứ Nguyên, Thượng thư bộ
Lễ nhà Nguyên Trương Lập Đạo tiếp. Sau khi nêu sức mạnh vô địch của nhà
Nguyên, nói rõ trên một nửa thế giới đã nằm trong bản đồ đế chế Nguyên,
chỉ có nước An Nam là nước duy nhất chống lại, Trương Lập Đạo nói tiếp:
“Vua tôi nước ngươi thật như ếch ngồi đáy giếng, coi trời nhỏ. Hỏi rằng
được bao nhiêu sức người sức của, có địa lợi hiểm yếu gì mà dám chống
lại thiên triều. Thành Thăng Long nhỏ bé kia của nước ngươi, quân thiên
triều tới chỉ một cái đạp nữa là san bằng”.
Sứ giả ta, người đại diện cho dân tộc
chiến thắng đã khảng khái trả lời: “Các ông là nước lớn, chúng tôi là
nước nhỏ, chúng tôi chỉ muốn yên ổn, không bao giờ muốn sinh sự, chỉ vì
các ông cậy người đông sức mạnh, đến trực đè đầu cưỡi cổ chúng tôi. Vì
lẽ phải giữ mình chúng tôi phải chống lại. Người xưa có câu “trong chiến
tranh lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua”, chúng tôi vì tự vệ nên
chúng tôi thắng; các ông vì cướp đoạt nên các ông thua. Đó là lẽ tất
nhiên, không thể cậy thế mạnh thế yếu, nước to nước nhỏ mà bàn được.
Thành Thăng Long kia là thành nhỏ để phòng những kẻ trộm cướp vặt, phá
tan nào có khó gì. Còn như để chống với kẻ địch bên ngoài đến cướp nước
chúng tôi, thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như núi, không kẻ
nào phá được, đó là sức mạnh của toàn thể quân dân chúng tôi”[2].
Anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh
đã khái quát như sau: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm
lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng
mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng
chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta”[3].
Ngày nay, thế giới đã dần hiểu rõ về
truyền thống và sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong tổng thể cấu thành
truyền thống và sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam:
Bơ-ran-man, giám đốc cơ quan nghiên cứu
kế hoạch chiến tranh không quân của Mỹ trước đây cũng đã từng phải công
nhận: “Trong khi các nhà lãnh đạo nước Mỹ càng ngày càng đặt nhiều hy
vọng vào kỹ thuật để khuất phục Đông Dương, thì các lực lượng kháng
chiến lại tìm thấy sức mạnh chủ yếu của họ ở chỗ khác: trong tiềm lực văn hóa và tinh thần của nhân dân họ”[4].
Ngày 03 tháng 3 năm 2001, Tổng thống Nga
Vladimir.Pu-tin cùng đoàn đại biểu chính phủ Nga đến thăm Văn miếu Quốc
tử giám (trong chuyến thăm chính thức Việt Nam) đã ghi vào sổ vàng lưu
niệm: “Văn hóa Việt Nam là một trong những nền văn hóa cổ kính và có
truyền thống nhất trên thế giới. Trên cơ sở phát huy truyền thống văn
hóa phong phú đó, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giải quyết mọi vấn đề
của đất nước mình với với sự khâm phục của thế giới”[5].
Thách thức của thời cuộc
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ
của dân tộc ta đã chứng minh cho những kẻ thù hùng mạnh, bạo tàn, tham
lam, gian manh và thâm độc nhất thế giới thấy, chúng sẽ thất bại nhục
nhã và phải cuốn gói về nước nếu chúng manh tâm xâm lược đất nước ta.
Tuy nhiên, vẫn còn có những kẻ chưa từ bỏ dã tâm xâm lược, lấn chiếm đất
nước ta.
Hiện nay, khi tình hình biển Đông đang
tiềm ẩn những mối nguy cơ hệ trọng, Trung Quốc từng đưa giàn khoan Hải
Dương 981 xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước
ta. Nó nằm trong mưu đồ từng bước độc chiếm biển Đông của Trung Quốc. TQ
đã từng dùng vũ lực chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ
quyền Việt Nam từ năm 1956, năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa vào
năm 1988…
Giai đoạn hiện nay Việt Nam đang đứng trước thử thách lịch sử phải bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.
Trước tình hình đó, toàn thể dân tộc
Việt Nam đang sinh sống ở trong nước cũng như ở nước ngoài, cần phát huy
văn hóa dân tộc như một sức mạnh to lớn để giữ nước. Vì bảo vệ chủ
quyền và quyền chủ quyền biển đảo, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh
tế nằm trong công cuộc giữ nước ngàn đời của dân tộc ta, do pháp luật và
công ước quốc tế quy định.
Là hành động mang ý nghĩa văn hóa, nhân
văn cao cả. Đó là hành động bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân tộc Việt
Nam, giữ gìn lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà ông cha ta
đã có công khai phá từ thời còn vô chủ giữ gìn chủ quyền bằng mồ hôi
công sức và cả bằng máu của mình.
Đó còn là để bảo vệ lợi ích của nhân
dân Việt Nam trong hiện tại và con cháu đời sau. Là hành động bảo vệ
quyền bình đẳng, lòng tự tôn dân tộc, thể diện quốc gia, phẩm giá con
người Việt Nam, bảo vệ các giá trị văn hóa, văn minh chung của nhân loại
- các giá trị được ghi nhận trong luật pháp quốc tế.
Đồng thời chống lại mọi âm mưu và hành
động của của các thế lực đang âm mưu xâm lược biển đảo. Năm 1988, quân
Trung Quốc đã giết hại 64 chiến sỹ, đa số là bộ đội công binh của ta
không mang theo vũ khí, đang xây dựng công trình ở đảo Gạc Ma), chiếm
đoạt chủ quyền và tài nguyên quốc gia của chúng ta.
Cuộc đấu tranh cũng chính là việc chống
lại cái ác, cái dã man, cái tham lam bất chính, bất chấp luật pháp quốc
tế của các thế lực bành trướng lãnh thổ, chống lại những gì phản văn
hóa, văn minh, vô nhân đạo mà những thế lực này gây ra.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải thực hiện
đồng bộ các giải pháp để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với biển đảo
của Tổ quốc. Trong quá trình ấy cần phát huy truyền thống văn hóa dân
tộc trong hành động giữ vững chủ quyền.
Cần tuyên truyền để nhân dân ta, nhân
dân thế giới thấy rõ sự chính nghĩa của chúng ta. Đồng thời thấy rõ hành
động của thế lực muốn xâm chiếm là phi nghĩa, phản văn hóa, vô nhân
đạo, bất chấp luật pháp quốc tế.
Đứng trước giai đoạn bắt đầu nổi lên
những “giông bão” của lịch sử dân tộc, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
thiêng liêng của Tổ quốc đòi hỏi mỗi người dân đất Việt phải luôn am
hiểu và phát huy truyền thống văn hóa giữ nước của dân tộc.
Nhân lên nhiều hơn nữa lòng yêu nước
nồng nàn, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không
chịu làm nô lệ”; nâng cao ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc trong mối
liên hệ mật thiết giữa cá nhân - gia đình - họ tộc - làng xã - đất nước
trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Làm cho nhân dân tiến bộ trên thế giới
thấy được sự chính nghĩa và tính nhân văn cao cả trong văn hóa giữ nước
của dân tộc ta như lời Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Đem đại nghĩa để
thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Đồng thời cần nghiên cứu,
học tập và vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc độc đáo của cha ông ta, để biết đánh và biết thắng mọi kẻ thù xâm lược./.
[1] Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ (in lần thứ 2), Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.30-32
[2] Phạm Ngọc Phụng, Tổ tiên ta đánh giặc, Tư liệu Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, Nxb Chính Trị Quốc Gia , Hà Nội, 1995, tr.171.
[4] Việt Nam - Lương tâm của thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.307.
[5] Nguyễn Thế Long, “Các nguyên thủ quốc gia nói gì về Văn miếu Quốc tử giám” - An ninh thế giới cuối tuần, số 14, ngày 13.01.2002.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét