
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Malaysia Najib Razak.
The Diplomat ngày 10/7 đăng bài phân tích của nhà nghiên cứu Mina
Pollmann chuyên ngành chính trị – chính sách đối ngoại quốc tế tại đại
học Ngoại giao Georgetown bình luận, việc Trung Quốc biến đường 9 đoạn
thành 10 đoạn ở Biển Đông, mở rộng yêu sách mà họ gọi là “lợi ích cốt
lõi” không phải thủ đoạn gì mới, nó là cách làm của thực dân châu Âu
thiết lập chế độ quan hệ quốc tế trên toàn thế giới trước đây.
Tuy nhiên việc mở rộng các khái niệm về biên giới trên biển trong bối
cảnh Trung Quốc (nhảy vào) tranh chấp với Việt Nam, Philippines,
Malaysia và Brunei lại là thủ đoạn lỗi thời, giật lùi thời đại.
Pollmann cho rằng, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á thế kỷ trước đã không
“nhận thức chủ quyền theo cách những kẻ xâm lược phương Tây đã làm, họ
cũng không đặc biệt quan tâm đến tuyên bố chủ quyền với các đảo nhỏ, bãi
đá có rất ít giá trị kinh tế hoặc chính trị trước khi bước vào thời đại
công nghiệp hóa và toàn cầu hóa này.”
Vì kích thước nhỏ của các nước ven Biển Đông, các đảo tranh chấp
thiếu cả tiếng nói bản địa và hành lý lịch sử, đây là những gì khiến các
quần đảo này trở nên hoàn hảo với các thao tác của chính phủ, Pollmann
bình luận. Học giả này dẫn lập luận của Robert D. Kaplan trong cuốn sách
“Cauldron châu Á”, sự “trống vắng” của những hòn đảo này cuối cùng lại
làm cho chúng trở thành “biểu tượng của lòng yêu nước hoặc tính quốc gia
trong thời đại truyền thông toàn cầu”.
Tuy nhiên cần nhấn mạnh ở đây, ít nhất từ thế kỷ 17 Nhà nước Việt Nam
qua các thời kỳ khác nhau đã thực hiện khai phá, tuyên bố và thực thi
chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này không chỉ
được ghi chép trong các tài liệu lịch sử, mà còn có trong các văn bản
hành chính của cơ quan quyền lực nhà nước (chỉ dụ, mộc bản và sắc phong
triều Nguyễn) rất có giá trị pháp lý – PV.
Phải chăng do chưa được tiếp cận đến các tài liệu này nên Robert D.
Kaplan cũng như Pollmann mới đưa ra nhận định như vậy, đánh đồng tính
chính nghĩa của Việt Nam với các tuyên bố, yêu sách “nhận phần” ở Biển
Đông của các bên sau khi nhu cầu về tài nguyên dầu mỏ bùng nổ?

19
châu bản triều Nguyễn được công bố là tài liệu lịch sử - pháp lý có giá
trị rất lớn trong việc tranh tụng tại cơ quan tài phán quốc tế để bảo
vệ chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh:
Đại Đoàn Kết.
Dù có thể các hoạt động thực thi chủ quyền của Nhà nước Việt Nam thời
phong kiến đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa so với “tiêu chuẩn
châu Âu” hay các văn bản pháp lý quốc tế hiện đại ngày nay khó có thể
được đầy đủ, chính xác và kín kẽ do những giới hạn về kỹ thuật và sự
phát triển của pháp lý quốc tế thời kỳ đó, nhưng rõ ràng người Việt đã
xác lập và thực thi chủ quyền sớm nhất, hòa bình và liên tục đối với 2
quần đảo này, do đó không thể nói những hòn đảo này “trống vắng” hay
“thiếu cả tiếng nói bản địa và hành lý lịch sử” được.
Trên cơ sở những nhận định thiếu sót này, (do thiếu nguồn tư liệu
chính xác và đáng tin cậy?) Pollmann cho rằng vấn đề chủ quyền ở Biển
Đông đã trở thành “công cụ tuyệt vời” để lãnh đạo các nước “linh hoạt
vận dụng” trong việc đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc.
Phân tích này của Pollmann cũng cho thấy phần nào thực tế công tác
nghiên cứu, tuyên truyền và quảng bá các chứng cứ pháp lý và lịch sử có
giá trị pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa đối với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với giới học thuật
thông qua các diễn đàn, tạp chí uy tín lớn trên thế giới thời gian qua
còn quá non yếu – PV.
Chính phủ Malaysia đã lựa chọn hạ thấp tầm quan trọng trong yêu sách
của họ ở Biển Đông bởi vì làm như vậy sẽ cho họ một lợi thế để có được
quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc. Trong khi đó Việt Nam nhấn mạnh các
hoạt động của Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán của mình trên Biển Đông, nhưng Pollmann cho rằng là nhằm mục đích
chính trị, dùng vấn đề chủ quyền để cải thiện quan hệ giữa đảng lãnh đạo
với người dân?!
Malaysia coi vấn đề Biển Đông như một cơ hội để làm thân với Trung
Quốc để thu về lợi ích kinh tế, chính trị và ngoại giao thông qua hợp
tác song phương với Bắc Kinh. Chính sách “Ngoại giao im lặng” của
Malaysia vẫn được nước này xem như cách tiếp cận thực tế và con đường
tốt nhất cho hòa bình và ổn định trong khu vực. Kuala Lumpur hy vọng
bằng cách nhân nhượng Trung Quốc trong hiện tại, Trung Quốc sẽ đáp ứng
yêu cầu của Malaysia trong tương lai.
Tuy nhiên chiến lược này của Malaysia có thể thất bại nếu sự dàn xếp
này buộc Malaysia phải từ bỏ lợi ích thực sự của họ ở Biển Đông nhiều
hơn ngưỡng có thể chấp nhận.
Các chính khách Malaysia đã quyết định xem tranh chấp lãnh thổ với
Trung Quốc ở Biển Đông không có ý nghĩa gì. Với họ cũng như với dân
Malaysia, đây là những tranh chấp dựa trên những cân nhắc về kinh tế và
an ninh, cách xa trí tưởng tượng của người dân Malaysia về những gì họ
có thể được. Với chính sách ấy, Malaysia không có các vụ đụng độ bạo lực
hàng hải với Trung Quốc như những gì đang xảy ra với Philippines và
Việt Nam.
Nhưng ngay cả khi xảy ra những tình huống tương tự với Malaysia trong
tương lai nó cũng không có khả nâng khuấy động tình cảm công khai chống
Trung Quốc (bành trướng) với mức độ tương tự (như Việt Nam và
Philippines).
Kuala Lumpur đã hy sinh yêu sách của họ ở Biển Đông – Trường Sa để
thúc đẩy lợi ích trong mối quan hệ với Trung Quốc. Và bây giờ yêu sách
của Malaysia ở Biển Dông phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của Trung
Quốc.

Có
lẽ Pollmann chưa trực tiếp chứng kiến sự côn đồ, ngang ngược của tàu
Trung Quốc liều lĩnh đâm thẳng vào tàu thực thi pháp luật của Việt Nam
ngay trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam nên học giả
này mới "chính trị hóa" lòng yêu nước và ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
của người Việt.
Pollmann bình luận, trái ngược với thái độ thụ động của các chính trị
gia Malaysia, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhìn thấy vấn đề Biển Đông
“như là cơ hội tích cực để khẳng định vai trò lịch sử và tính hợp pháp
trong hoạt động lãnh đạo của Đảng bằng việc khơi dậy tình cảm chủ quyền
của người Việt Nam”.
Có lẽ Pollmann không biết rằng, tình cảm và ý thức của người Việt Nam
đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia đã có từ ngàn đời nay và mỗi ngày
một lớn thêm lên, không cần phải đợi ai đó “kích thích”, chỉ cần đối mặt
với hiểm họa xâm lăng là nó lại trỗi dậy – PV.
Đúng là do những hạn chế nhất định trong công tác truyền thông, tuyên
truyền về chủ quyền biển đảo của Việt Nam trước đây có thể dẫn đến việc
thiếu thông tin, nhận thức không chính xác. Nhưng trong cuộc khủng
hoảng giàn khoan 981 (Trung Quốc hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền
kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam – PV) vừa qua, Việt Nam đã làm rất
tốt điều này. Không chỉ có phóng viên Việt Nam mà cả các phóng viên quốc
tế cũng đã được trực tiếp chứng kiến những hành vi hung hăng, vi phạm
luật pháp của Trung Quốc.
Ngày càng nhiều các bằng chứng pháp lý và bằng chứng lịch sử có giá
trị pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa được sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi với dư luận.
Vì vậy, lập luận của Pollmann cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa
chọn có chủ ý những xung đột do hành vi của Trung Quốc lấn chiếm chủ
quyền của Việt Nam, khai thác hình ảnh Trung Quốc như một kẻ áp bức Việt
Nam bằng cách khẳng định yêu sách chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa dựa trên hình ảnh hoài cổ của một Việt Nam lý tưởng thống
nhất dưới triều Nguyễn” là hoàn toàn sai lệch, phiến diện.
Bài viết của Pollmann dường như cuối cùng đã lộ ẩn ý ngầm ủng hộ chủ
trương bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng lại không
đưa ra được bất cứ chứng cứ nào để chứng minh cho lập luận của mình,
đồng thời né tránh có chủ ý tới ý đồ và thủ đoạn bành trướng của Bắc
Kinh trên Biển Đông trong tương quan các phản ứng của Việt Nam,
Philippines và Malaysia.
Thay vào đó, học giả này chỉ đưa ra so sánh về thái độ phản ứng của
Việt Nam, Philippines với Malaysia mà lờ đi thực tế các hoạt động bành
trướng, vi phạm pháp luật quốc tế của Trung Quốc. Dường như thông điệp
của tác giả Pollmann muốn hướng đến Việt Nam và Philippines rằng, đối
đầu với (sự bành trướng và gây hấn của) Bắc Kinh thì chỉ có thiệt, ngậm
miệng ăn tiền như Malaysia mới là thực tế? Nói như Pollmann, thì luật
pháp quốc tế bao gồm UNCLOS chỉ còn là một mớ giấy lộn đáng bỏ vào thùng
rác? Thế giới sẽ không bao giờ có thể chấp nhận điều này – PV.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét