Bắc Kinh gây bất hòa với nhiều "bạn bè" xưa
-Bắc
Kinh đang sử dụng các đội tàu đánh cá và tàu bán quân sự cho các mục
đích địa chính trị bằng cách theo đuổi chiến lược “đánh bắt, bảo vệ,
tranh chấp, và độc chiếm”.
Không còn ai nghi ngờ sự trỗi
dậy của Trung Quốc đang là động lực chính tạo ra những thay đổi chiến
lược của thời đại, cũng giống như uy thế ảnh hưởng mà Mỹ đã định hình kỷ
nguyên trước. Ngày càng xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy Bắc Kinh
quyết tâm thực hiện yêu sách lãnh thổ và tài nguyên của mình ở các vùng
biển cực kỳ quan trọng của Tây Thái Bình Dương. Đó chính là kiểu hành vi
cưỡng chế mà các học giả từ lâu đã dự đoán. Trong một vòng cung
3.000 dặm biển chạy từ biển Hoa Đông cho đến phía nam của biển Đông, Bắc
Kinh đang bất hòa với nhiều nước láng giềng, trong đó có cả bạn bè xưa,
xung quanh một số tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên liên quan.
Thái
độ hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông gần đây thường được giải
thích là do sự cần thiết phải bảo vệ các tuyến đường thương mại hàng hải
quan trọng và các nguồn năng lượng an toàn [2]. Nhưng có một nguyên
nhân dễ bị “cho qua” đó là tầm quan trọng của tài nguyên sinh vật biển
có giá trị như một chất xúc tác cho hỗn hợp xung đột nguy hiểm ở Tây
Thái Bình Dương. Chính “cơn khát” này là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt
hành vi gây hấn của TQ nhằm độc chiếm biển Đông.
Cá – một hàng hóa chiến lược
Thực
tế, các ngư trường phong phú của vùng biển Đông và Hoa Đông có ý nghĩa
quan trọng với an ninh lương thực trong tương lai không kém gì vai trò
của dầu khí [3]. Với nguồn cá tự nhiên đang suy giảm mà nhu cầu lại
tăng, thì cá đã trở thành một mặt hàng chiến lược phải được bảo đảm. Nếu
cần, bằng vũ lực.
![]() |
| Ảnh: Hoàng Sang |
Chúng tôi cho rằng Bắc Kinh đang sử dụng các đội tàu đánh cá và tàu
bán quân sự cho các mục đích địa chính trị bằng cách theo đuổi chiến
lược “đánh bắt, bảo vệ, tranh chấp, và độc chiếm” - được thiết kế để
củng cố các yêu sách chủ quyền và tài nguyên đối với các đảo tranh chấp ở
Tây Thái Bình Dương và ép buộc các bên tranh chấp khác tuân thủ, và
chấp nhận, lập trường của Trung Quốc. Nếu chính sách này không thay đổi
hoặc ôn hòa hơn, thì hậu quả của nó có thể đe dọa ổn định khu vực và
thậm chí an ninh lâu dài của chính bản thân Trung Quốc.
Các quốc
gia lâu nay vẫn thường chiến đấu tranh giành quyền kiểm soát các nguồn
tài nguyên quan trọng. Người ta thường liên tưởng đến vàng, bạc, và gần
đây là dầu, khí đốt và kim loại quý. Nhưng cá đã bắt đầu cho thấy tầm
quan trọng chiến lược tương đối với Trung Quốc vì cả sự khan hiếm và vai
trò trung tâm của nó với nền kinh tế, đời sống, và chế độ ăn uống của
nhiều người dân Trung Quốc.
Suy giảm nguồn cá không phải là vấn
đề của riêng Trung Quốc. Đó là một vấn đề an ninh lương thực toàn cầu,
diễn ra đúng thời điểm mà ngành công nghiệp đánh bắt cá phải đối mặt với
một loạt các vấn đề về nguồn cung, bao gồm đánh bắt quá mức, môi trường
của cá bị hủy hoại, sự gia tăng mạnh các đội tàu đánh bắt trên thế
giới, và các trợ cấp sai hướng của nhà nước.
Kể từ năm 1950, tổng
sản lượng đánh bắt cá tự nhiên và cá nuôi hằng năm tăng gấp 5 lần (lên
đến 148 triệu tấn, với giá trị thị trường 217,5 tỷ USD) [4]. Thay vì là
một chiến thắng về công nghệ và canh tác thủy sản hậu công nghiệp, việc
đánh bắt chưa từng có này đã gây thiệt hại nghiêm trọng về số lượng cá
tự nhiên. Gần 15 các loài thủy sản vẫn còn khả năng tăng trưởng, nhưng
85% còn lại được phân loại theo Tổ chức Nông Lương (FAO) Liên hiệp quốc
là đã khai thác hết, cạn kiệt, hoặc đang phục hồi [5].
Những xu
hướng toàn cầu này được phản ánh trong các vùng biển gần Trung Quốc. Sản
lượng cá ở biển Hoàng Hải và biển Hoa Đông đã giảm đáng kể trong vòng
20 năm qua. Ở biển Đông, nơi đóng góp khoảng 10% sản lượng đánh bắt thủy
sản toàn cầu hàng năm, việc đánh bắt quá mức đã làm giảm nghiêm trọng
nguồn cá đến mức các khu vực ven biển chỉ còn chiếm 5-30% nguồn cá chưa
khai thác [6]. Điều này khiến Bắc Kinh lo ngại bởi vì Trung Quốc là nước
tiêu thụ cá nhiều nhất. Hơn 9 triệu ngư dân – tương đương ¼ tổng số ngư
dân thế giới - là người Trung Quốc [7].
Nhưng, thống kê cho thấy, sự thiếu hụt của Trung Quốc đang cần phải bù đắp bằng mọi giá [8].
“Thỏa” cơn khát
Những nguyên nhân nội tại khác cũng đang đặt đất nước này trước cơn “khát cá”.
Trước
tiên, dân số TQ đang bùng nổ, tầng lớp trung lưu tăng nhanh, và quá
trình chuyển đổi kinh tế diễn ra mau lẹ đã đẩy hàng triệu nông dân, công
nhân từ nội địa ra các tỉnh ven biển, dẫn tới nhu cầu đối với sản phẩm
cá tăng và lực lượng ngư dân lưu động cũng như áp lực đối với nguồn cung
cá tự nhiên. Đồng thời, nền kinh tế theo quy mô chỉ có lợi cho các
nghiệp đoàn thương mại lớn đã làm giảm thu nhập và an ninh lương thực
cho các cộng đồng đánh bắt cá truyền thống trong một “chu kỳ phản hồi
phức tạp, tiêu cực” [9].
Thứ hai, do số lượng ngư dân muốn khai
thác dự trữ cá còn lại ngày càng tăng, Trung Quốc đã liên tục phải mở
rộng quy mô [10]. Trung Quốc có đội tàu cá khổng lồ cả về số lượng và
trọng tải nếu tính cả đội tàu nội địa [11]. Việc quản lý và giảm quy mô
của đội tàu ở mức bền vững vẫn đang trở thành một vấn đề phức tạp do áp
lực chính trị và kinh tế trong nước bắt buộc phải hỗ trợ cộng đồng ngư
dân địa phương và do không muốn áp đặt quy định hạn chế cấp phép và giới
hạn đánh bắt [12].
Nhưng, thời gian qua, Chính phủ Trung Quốc đã
không thể làm được gì ngoài việc trợ cấp cho ngành này hơn 4 tỷ USD mỗi
năm, bằng khoảng 1/4 tổng trợ cấp của châu Á và khoảng 15% tổng trợ cấp
trên thế giới [13]. Trợ cấp vô hình chung đẩy giá lên cao và khuyến
khích ngư dân đánh bắt không có lợi nhuận tiếp tục bám trụ trong nghề
trong khi số tiền sẽ hiệu quả hơn nếu được dùng để chuyển dịch cơ cấu
ngành và giảm dần số lượng tàu cá theo thời gian.
Trong những năm
gần đây, Bắc Kinh đã có những nỗ lực nghiêm túc để giải quyết sự mất
cân bằng nguồn cung bằng cách cố gắng giảm bớt các đội tàu đánh cá quốc
gia, thúc đẩy đầu tư vào ngành công nghiệp đánh bắt cá, đào tạo lại ngư
dân thất nghiệp, và ban hành lệnh cấm đánh bắt cá và giới hạn đánh bắt,
nhưng tất cả đều chỉ đạt được thành công hạn chế [14]. Hiện đang có quá
nhiều tàu đánh trong khi lượng cá còn lại quá ít, và rất khó để ngư dân
truyền thống từ bỏ hoạt động vì đây vẫn là một nghề sinh lời.
Thứ
ba, các ràng buộc pháp lý quốc tế như quy định trong Công ước của Liên
hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 đã vừa hạn chế diện tích biển
mở cho đánh bắt cá và vừa gắn liền quyền đánh cá với vấn đề chủ quyền,
đã làm phức tạp thêm việc xét xử và giải quyết các tranh chấp về lãnh
thổ và đánh bắt cá trên biển Đông và Hoa Đông. Tuyên bố vùng đặc quyền
kinh tế (EEZ) - một biển vùng mở rộng 200 hải lý tính từ bờ biển của một
quốc gia, hải đảo, và các đường bao biển quy định chủ quyền khác -
càng khiến tình hình thêm phức tạp, cho phép các nước tuyên bố chủ quyền
đối với tất cả các nguồn tài nguyên dưới đáy biển trong vùng đặc quyền
kinh tế bao gồm cá, dầu, khí đốt, khoáng sản đáy biển có giá trị.
Tất cả những “ràng buộc” nói trên đã đẩy Trung Quốc vào thế phải “độc chiếm” ngư trường để phục vụ cho tham vọng.
Tác giả: Alan Dupont & Christopher G.Baker.
Alan Dupont là Giáo sư giảng dạy chuyên ngành an ninh quốc tế tại Đại
học New South Wales, Úc. Christopher G.Baker là nghiên cứu sinh tại
Trung tâm Nghiên cứu An ninh quốc tế tại Đại học Sydney.
Nguyễn Tính (Theo The Washington Quarterly)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét