Tướng Phạm Văn Dỹ: 6 lần Trung Quốc ra đòn với Việt Nam
TT - "Người Trung Quốc từng năm lần xâm
chiếm biển đảo của chúng ta và đây là lần thứ sáu trong khi đất nước ta ở
trong các thể chế khác nhau. Tại mỗi thời kỳ như vậy chúng ta lại có
những phương lược, sách lược khác nhau".
Đây là điều mà trung tướng Phạm Văn Dỹ, chính ủy Bộ tư
lệnh Quân khu 7, nhận định trong chương trình trò chuyện “Cà phê buổi
sáng” phát trên Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM sáng 7-6 cùng với sự tham
dự, phỏng vấn trực tiếp của phóng viên Tuổi Trẻ.
|
Trung tướng Phạm Văn Dỹ - Ảnh: Hoàng Điệp
|
Trung tướng Phạm Văn Dỹ nói: Động cơ của Trung Quốc là
rất rõ, bởi độc chiếm biển Đông là mục tiêu nhất quán của Trung Quốc.
Nếu lúc đầu động cơ của họ đơn giản chỉ là tài nguyên thì bây giờ còn là
câu chuyện hàng hải, quân sự, thương mại trên biển Đông.
Người Trung Quốc từng năm lần xâm chiếm biển đảo của
chúng ta và đây là lần thứ sáu trong khi đất nước ta ở trong các thể chế
khác nhau. Tại mỗi thời kỳ như vậy chúng ta lại có những phương lược,
sách lược khác nhau.
Lịch sử cho thấy kể từ lần thứ nhất năm 1946, trong
tình thế đất nước ta ngàn cân treo sợi tóc trước sự trở lại của người
Pháp và đó cũng là lúc Liên Hiệp Quốc yêu cầu người Trung Quốc đến giải
giáp quân Nhật. Lúc đó, khoảng trống có lợi cho Trung Quốc, họ ra đòn.
Họ cũng tranh thủ chiếm luôn đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và
đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa). Năm 1949, Trung Quốc giải phóng
thì họ rút ra, nhưng họ đã lộ rõ ý đồ chiếm các đảo của Việt Nam. Lần
thứ hai vào năm 1956, sau hiệp định Genève, người Pháp phải rút đi, quân
đội chưa mạnh, Mỹ chưa can thiệp, họ ra đòn. Khi ấy quân đội Việt Nam
cộng hòa chưa có tàu nên Trung Quốc chiếm gần như toàn bộ phần phía đông
của quần đảo Hoàng Sa. Lần thứ ba là năm 1959 họ ra đòn nhưng không
thành công. Trung Quốc mang quân qua chiếm nốt phần phía tây của quần
đảo Hoàng Sa nhưng quân đội Việt Nam cộng hòa đã có mặt ở đó.
Lần thứ tư là năm 1974, người Mỹ rút hạm đội 7, quân
đội giảm quân số ở Hoàng Sa từ một tiểu đoàn xuống một trung đội địa
phương, họ tiếp tục ra đòn (Trung Quốc mang quân tấn công phần phía tây
quần đảo Hoàng Sa đang do quân đội Việt Nam cộng hòa quản lý). Ngày
14-3-1988, lúc ấy quân đội chúng ta vẫn đang làm nhiệm vụ thời chiến ở
biên giới Tây Nam và phía Bắc. Và lúc đó, chúng ta cũng bị cấm vận bốn
bề họ lại ra đòn (Trung Quốc đã đưa quân vào chiếm đảo Gạc Ma ở quần đảo
Trường Sa).
Và bây giờ, là lúc mà khoảng trống quyền lực đã được
tạo ra bởi Ukraine và nhiều khu vực khác trên thế giới. Các cường quốc
khác như Mỹ, Nga... đang bị phân tán thì họ lại ra đòn.
* Theo ông, việc Trung Quốc ra đòn lần này có phải là để thử phản ứng của chúng ta và dư luận thế giới về biển Đông?
- Trong các hành động đó, xét về mặt chiến lược là sự
nhất quán, còn trong từng giai đoạn, từng tình huống cụ thể, như tình
huống hiện nay họ phải thử phản ứng của tất cả như Mỹ và các nước đang
có tranh chấp với họ; ASEAN, cộng đồng quốc tế nói chung và cả nhân dân
yêu chuộng hòa bình Trung Quốc. Tùy theo mức độ phản ứng và hiệu quả sự
phản ứng, họ sẽ tiến tới các bước tiếp theo là độc chiếm hoặc phải dừng
lại, đó là chuyện sẽ diễn ra trong thời gian tới.
Nếu cuộc chiến năm 1979 xảy ra bởi có sự căng thẳng về
bang giao giữa hai nước thì lần này không có dấu hiệu gì báo trước bởi
trong giai đoạn này quan hệ giữa hai nước vẫn tiến triển rất tốt kể cả
quan hệ cấp cao giữa hai đảng, hai nhà nước và quân đội. Nhưng Trung
Quốc tận dụng khoảng trống quyền lực do thế giới tạo ra để ra đòn. Điều
này, nói dân dã là “chơi không có đẹp”.
Việc tận dụng khoảng trống quyền lực là điều tuy chúng
ta không ngạc nhiên về mặt chiến lược nhưng với Trung Quốc bên cạnh việc
họ chà đạp luật pháp quốc tế, những ký kết với ASEAN thì họ chà đạp
luôn cả tình cảm, sự chân thành và thiện chí mong muốn hòa bình của Việt
Nam. Như vậy, dã tâm của Trung Quốc đặt cho chúng ta một áp lực lớn,
thách thức lớn về vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc
gia nhưng rõ ràng qua việc làm của họ, chúng ta cũng phải rà soát lại
tất cả từ kế sách giữ nước đến quan hệ kinh tế, vấn đề an ninh quốc
phòng, bang giao, ngoại giao và cả quan hệ song phương giữa Việt Nam với
Trung Quốc. Tất cả những nỗ lực đó, Đảng đã tính toán từ lâu trên tất
cả quyền lợi của dân tộc cũng như quan hệ đối ngoại đối với Trung Quốc,
bởi nguyện vọng của chúng ta là hòa bình cho Việt Nam và hữu nghị với cả
Trung Quốc cùng bạn bè trên thế giới.
* Là một vị tướng, ông có thể nói gì với nhân dân về sự chuẩn bị của Việt Nam?
- Một trong những yêu cầu của người cầm súng ngày nay
đó là trí tuệ. Không chỉ có lòng dũng cảm mà được. Tôi nhớ hình ảnh anh
Sáu Tòng (trong tác phẩm Đất rừng phương Nam) lòng yêu nước
luôn có thừa nhưng cung tên không chống lại được súng đạn. Bây giờ cũng
thế, bên cạnh những vũ khí trang bị hiện đại mà chúng ta có được, sản
xuất được, mua được giống như các quốc gia khác nhưng quan trọng nhất là
con người phải điều khiển được, sử dụng được những trang thiết bị hiện
đại ấy để nó cùng với con người biến thành sức mạnh chiến đấu hiệu quả
trên chiến trường nếu chiến tranh xảy ra. Và điều đó đặt ra người lính
phải có hàm lượng trí tuệ nhất định.
TP.HCM nhiều năm qua đi đầu quân khu trong việc vận
động bà con đưa những người con trai, con gái là những thanh niên trí
thức trẻ gia nhập quân đội. Những người lính ấy sẽ góp phần đưa quân đội
ta trở thành chính quy, tinh nhuệ và một số quân binh chủng trực tiếp
đi vào hiện đại để đảm bảo sức sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân
Việt Nam chúng ta.
Quan trọng nữa, những người lính ấy sau thời gian phục
vụ trong quân ngũ sẽ về lại địa phương trở thành lực lượng tiên tiến ở
địa phương, họ trở thành quân dự bị có chất lượng cao ngụ binh ư công
nhân, ngụ binh ư công chức... Và cũng chính những người này, với độ tin
cậy và chính trị cao, họ sẽ tham gia xây dựng Đảng ở địa phương, đó là
kế sâu gốc bền rễ chúng ta đang làm.
HOÀNG ĐIỆP lược ghi và thực hiện
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét