Danh
tướng Lý Thường Kiệt qua nét vẽ theo phong cách huyền sử (Có tài liệu
nói rằng, Lý Thường Kiệt là thái giám nên không để râu, tuy nhiên, để
giữ hình ảnh võ tướng, ông thường đeo râu giả).
Trong
kháng chiến chống Mỹ, có những tổ chiến đấu của một lực lượng tinh nhuệ
đã vào tận căn cứ địch để phá hủy các máy bay hiện đại (căn cứ….). Sớm
hơn rất nhiều, tổ tiên ta từ ngàn năm trước đã chủ động mở chiến dịch
quy mô lớn với nhiều chục ngàn quân, đánh vào nơi xuất phát của các cánh
quân xâm lược. Người chỉ huy các cánh quân ấy là Lý Thường Kiệt.
Lý Thường Kiệt là tôi trung của ba triều vua nhà Lý (Lý Thái Tông, Lý
Thánh Tông và Lý Nhân Tông). Ông cũng là người chỉ huy của ba chiến
dịch bất hủ: đánh vào Châu Khâm, Châu Liêm 1075-1076 và phòng thủ ở ở
sông Như Nguyệt năm 1076, cũng như đánh đánh bại sự xâm lược của quân
Chiêm Thành 1069.
Nhà Lý ở nước ta hình thành từ khi vua Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009
và 1010 định đô ở Thăng Long. Các triều vua tiếp tục ổn định nhiều mặt
trong nước, nhưng hai đầu biên giới phía Bắc, phía Nam thường bị dòm
ngó, quấy nhiễu.
Vốn từ năm 1070 vua quan nhà Tống đã tính kế xâm lược nước ta, chuẩn
bị binh lực, lương thực, dùng người thông tỏ địa hình. Trước đó, ở phía
Nam, qua việc Chiêm Thành đánh lên năm 1069, nhà Tống thu thập được số
liệu về nước ta.
Đối phó với kẻ thù hùng mạnh bấy giờ là quân Tống giai đoạn 1073 trở
đi, Lý Thường Kiệt đang trông coi cả việc văn, việc võ, tức cả về chính
trị lẫn quân sự của triều Lý Nhân Tông, đã coi sự đoàn kết, tập trung
sức mạnh từ triều đình đến toàn dân, từ kinh đô đến biên ải là kế lâu
dài.
Từ tháng 10/1075 đến tháng 3/1076, quân dân nhà Lý đã triển khai tiến
công trước để tự vệ vào các căn cứ quân sự của nhà Tống ở Châu Ung
(Quảng Tây), Châu Khâm, Châu Liêm (Quảng Đông)…

Tranh thể hiện tinh thần quật khởi, bất khuất và yêu độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, vua Lý Nhân Tông lên ngôi còn nhỏ
tuổi, vua Tống Thần Tông và đại thần Vương An Thạch quyết tâm nam chinh.
Đến năm 1075 nhà Tống đã tập kết lực lượng ở các căn cứ trên. Về phía
ta, năm 1075 đã khẳng định ý đồ của địch qua nhiều nguồn tin giá trị do
có kế hoạch nắm địch từ xa và đi sâu.
Ngày 27/10/1075, Lý Thường kiệt huy động hơn 100.000 quân, chia thành
hai đạo tấn công: đạo quân bộ do các tù trưởng Tôn Đản, Lưu Kỉ, Hoàng
Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An chỉ huy đánh các trại biên giới; đạo
quân thủy do Lý Thường Kiệt chỉ huy, vượt biển đánh Khâm Châu, Liêm Châu
rồi cùng phối hợp tiến đánh Ung Châu.
Trên đường tiến quân, Lý Thường Kiệt cho phân phát “Phạt Tống lộ bố
văn” kể tội vua quan nhà Tống, kêu gọi nhân dân ủng hộ hành động tự vệ
chính đáng của quân dân Đại Việt. Quân ta chiếm Khâm Châu 31/12/1075,
Liêm Châu 02/01/1076, Ung Châu 01/03/1076 phá hủy căn cứ, kho tàng… sau
đó chủ động rút về, gấp rút chuẩn bị kháng chiến.
Mười tháng sau thất bại ở Ung Châu, nhà Tống dựng cầu phao đóng bè, chuẩn bị
vượt sông tiến về Thăng Long. Nắm vững địa hình, có chuẩn bị sẵn, quân
ta với 60.000 người do Lý Thường Kiệt chỉ hy, lần lượt đánh bại hai
cuộc vượt sông lớn của địch, buộc chúng phải co cụm và chờ tăng viện.
Cuối tháng 2, quân ta phản công, đánh đêm, vượt sông đánh úp diệt quá
nửa cụm quân địch ở Như Nguyệt, buộc địch vào thế cùng lực kiệt, phải
xin rút quân, từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta.

Lý Thường Kiêt đánh Tống bên kia biên giới. Tranh minh họa
Chiến thắng Như Nguyệt còn đọng mãi với lời thơ Nam quốc sơn hà:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Nghĩa là:
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Lý Thường Kiệt, cậu bé Ngô Tuấn ngày nào, đã trải qua bao gian khó trong suốt hơn 80 năm trên đời để có những chiến công trên.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải, trong tác phẩm “Tám triều vua Lý” xuất băn
năm 2010, tập 2, trang 527, mượn lời một hòa thượng nói với tướng quân
Ngô An Ngữ, bố Ngô Tuấn khi Ngô Tuấn lên 7 tuổi: “Cậu bé này quãng đầu
đời gặp nhiều trắc trở với những nỗi buồn vĩ đại… Song cũng vì cái nhẽ
trắc trở ấy mà cậu trở nên một bậc anh tài hiếm thấy trong lịch sử nước
nhà. Chí làm trai đừng có ngại những thác ghềnh và cả sự vấp ngã”.
Ba năm sau lời nhà sư thì Ngô Tuấn mất cha, và bốn năm sau mất mẹ.
Khi bước vào tuổi hai mươi, sắp đến ngày cưới thì nhạc phụ ốm nặng, phải
cưới chạy tang, cưới vợ được ba ngày thì làm lễ tang nhạc phụ. Những
tưởng tình vợ chồng của tuổi trẻ có thể làm vơi nỗi buồn, nhưng rồi giữa
lúc đang hướng tới hạnh phúc lứa đôi thì vua có chiếu sung Ngô Tuấn vào
chức Hoàng môn chi hậu (quan hoạn) và ban quốc tính-mang họ Lý.
Cuộc đời vui buồn của Lý Thường Kiệt đem lại bao suy nghĩ cho nhiều
thế hệ. Nhớ đến ông là nhớ đến bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước
Việt.
Nhớ đến ông, một người mồ côi bố rồi mẹ khi 7 tuổi và 10 tuổi, đã
không ngừng học tập, rèn luyện trong cuộc sống, công việc và chiến trận,
vượt lên những trắc trở nhiều khi giằng xé tâm can. Nhớ đến tinh thần
chủ động tấn công của quân dân nhà Lý và sự phòng thủ vững vàng từ thể
hiện lòng dân. Đang trông coi cả văn võ triều đình, tính đến sự xâm lược
của giặc, đã thuyết phục quan Lý Đạo Thành trở lại coi việc văn (chính
trị) để ông tập trung cho giai đoạn chống giặc 1075-1076. Đấy chính là
tâm nguyện đoàn kết vì nước của ông.
Diệu Huyền (sưu tầm internet)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét