(Phản đối Trung Quốc xâm lược) - “Việt Nam không đánh đổi chủ quyền để nhận lấy thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc…Có lẽ như tất cả các nước, Việt Nam chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”
Cảm ơn Thủ tướng, lời khẳng định rõ ràng của ông trước các câu hỏi của phóng viên quốc tế vào ngày 21/5 tại Manila, Philippines đã tạo nên sự phấn chấn, nhất trí cao trong nhân dân cả nước, muôn người quyết một chí hướng ra biển Đông, chung sức, chung lòng đẩy lùi giàn khoan trái phép kia ra khỏi bờ cõi giang sơn.
“Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông”, Tôi nghĩ đó là câu nói dứt khoát, đầy trách nhiệm của một người lãnh đạo mà người dân chờ đợi từ lâu. Tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã nhìn nhận tuyên bố của Thủ tướng đã xóa bỏ mọi hoài nghi, xuyên tạc về việc chúng ta có là ‘sân sau’ của một quốc gia nào đó, khẳng định sự kiên quyết trong việc tạo dựng một nền kinh tế, chính trị độc lập. Tuyên bố ấy cũng là sự kết nối hào hùng từ tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và “phụ thuộc vào Trung Quốc? – Không bao giờ!” của Bác Hồ chính là tâm nguyện của nhân dân cả nước.
Người dân trong nước đang sục sôi, căm giận trước hành động phi pháp của nước láng giềng Trung Quốc trên biển Đông. Việc Trung Quốc đưa giàn khoan Haiyang Shiyou 981 vào trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam là một điều không thể chấp nhận được, dư luận trong và ngoài nước đang cực lực lên án, phê phán hành vi sai trái đó.
Trong cuộc sống, tính vị tha, lòng nhẫn nhịn, bao dung luôn giúp cho mọi người, mọi xã hội, mọi dân tộc sống tốt với nhau hơn, thương yêu, tôn trọng nhau hơn. Nhưng có những nguyên tắc bất di bất dịch không thể đem sự nhẫn nhịn ra làm phương kế, đối sách được. Đó chính là độc lập, tự do của một đất nước, đó chính là chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của một quốc gia.
Trên thế giới, có dân tộc nào “lạ lùng” như dân tộc Việt Nam. Sống cạnh người hàng xóm khổng lồ, tham lam mà mấy ngàn năm vẫn vững bền. Cả ngàn năm bị xâm lược, cố tình đồng hóa vẫn kiên cường độc lập. Chữ Nôm và tiếng Việt vẫn ngạo nghễ cạnh chữ Hán, tiếng Tàu. Áo dài vẫn hiên ngang và duyên dáng cạnh xường xám. Nước mắm vẫn nồng nàn hương vị cạnh xì dầu. Tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất ở châu Á có cách viết riêng kiểu chữ La Tinh với mấy dấu bé tẹo mà cực kỳ phức tạp. “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Chưa có dân tộc nào mà lịch sử lại khốc liệt như Việt Nam. Cả phụ nữ và trẻ em cũng sát vai đánh giặc giữ làng, giữ nước. Dẫu phải thường xuyên đánh giặc nhưng đó là chuyện chẳng đặng đừng, bị dồn vào chân tường. Chính những dân tộc thường xuyên bị chiến tranh là những dân tộc yêu chuộng hòa bình và không dễ gì bắt nạt. Đánh giặc, chống ngoại xâm, giữ vững độc lập đã khó nhưng khó nhất là giữ được bản sắc của dân tộc trước nạn diệt chủng văn hóa tàn bạo của phong kiến phương Bắc.
Từ thế kỷ X, Đinh Tiên Hoàng (924 – 979) đã dõng dạc tuyên bố “Cồ Việt quốc đương Tống khai bảo. Hoa Lư đô thị Hán Tràng An” (Nước Đại Cồ Việt sánh ngang nước Tống. Kinh thành Hoa Lư tựa Tràng An, Trung Quốc). Câu đối này được thờ trang trọng trong đền vua Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình.
Hơn nửa thế kỷ sau, trong “Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên”, Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) lại đanh thép khẳng định “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành phân định tại sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời”.
Thế kỷ XIII, vó ngựa Nguyên Mông đi tới đâu thì cỏ không mọc nổi. Đạo quân của Thành Cát Tư Hãn làm bá chủ từ Âu sang Á. Vậy mà 3 lần xâm lược Việt Nam, là 3 lần đại bại, rồi suy vong. Có người Trung Quốc thời đó cảm thán rằng “Nếu dân tộc Đại Việt ở phương Bắc thì vó ngựa Nguyên Mông không thể dẫm nát châu Âu. Nếu Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh ra thời nhà Tống thì người Trung Quốc không bị đô hộ cả trăm năm”. Thời đó, người dân Việt, qua Trần Bình Trọng (1259 – 1285) đã xác định tâm thế “Thà làm quỷ nước Nam, hơn làm vương đất Bắc”.
Xuân Kỷ Dậu 1789, cả nước Việt lại đồng lòng quyết chí “Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Hịch tướng sĩ của Quang Trung), quét sạch 300.000 quân Thanh và tùy tùng xâm lược. Khí phách đó vẫn tiếp tục duy trì khi chống Pháp với Nguyễn Trung Trực (1839 – 1868): “Chừng nào nhổ hết cỏ trên trái đất thì may ra mới trừ tiệt được những người nước Nam đánh Tây”. Khi quê hương bị xâm lược thì cả nước đồng lòng xung trận, đoàn kết xả thân vì đất Mẹ, thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Lời thề “Quyết chiến, chiến đến cùng!” của Hội Nghị Diên Hồng chống Nguyên Mông và quyết tâm “Còn cái lai quần cũng đánh” của anh hùng Nguyễn Thị Tịch (1931 – 1968)… đã nói lên tinh thần bất khuất và hào khí Đại Việt.

Trong mọi phương án chọn lựa thì cái nguyên tắc bất di bất dịch “tổ quốc là trên hết” phải lấy làm đầu, không có cái gì quý hơn sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền thiêng liêng của đất nước.
Năm 1986, tại khu di tích địa đạo Củ Chi có cuộc tọa đàm giữa các giáo sư, các nhà sử học và đại biểu đoàn Con Tàu Hòa Bình (Peace Boat) Nhật Bản. Khi nghe Bí thư huyện ủy Củ Chi Mười Nguyên kể chuyện kháng chiến “Dân cả vùng phải chui xuống đất để sống, làm việc, học tập và chiến đấu”. Một giáo sư Nhật Bản dè dặt hỏi: “Thế các ông dạy học sinh những gì trong lòng đất ngột ngạt?”. “Cực kỳ khó khăn và gian khổ. Sống đã khó. Để học tập còn khó hơn. Chúng tôi chỉ dạy các em được 3 môn. Học văn để biết làm người. Học toán để hiểu khoa học. Học sử để có niềm tin. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh là bất cứ kẻ thù nào, dù hùng mạnh và tàn bạo đến đâu, vào xâm lược Việt Nam cũng đều thảm bại. Nhờ niềm tin đó, chúng tôi chiến thắng”.
Nay Trung Quốc ngang ngược trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là không thể chấp nhận. Một hay mười giàn khoan cũng vậy. Đó là bản chất. Thành ngữ Trung Quốc có câu “Giang sơn dị cải, bản tính nan di” (Sông núi có thể cải tạo, san lấp; bản tính thì rất khó). Đừng hy vọng hão huyền về sự đổi thay của những người mang dòng máu Đại Hán. Điều chỉnh quan hệ đối ngoại, đoàn kết với các nước đang bị Trung Quốc gây sự, tìm bạn chí cốt thật sự và kiên quyết kiện ra tòa án quốc tế. Trung Quốc sẽ bị cô lập và buộc phải chấm dứt những trò đểu với láng giềng. Từ xưa, dân tộc Việt Nam đã không dễ gì bị bắt nạt và luôn cảnh giác. Không phải tự nhiên mà đền thờ các anh hùng dân tộc Việt Nam đều quay về hướng Bắc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét