Tác giả Liu Hongyang hiện đang là Thường vụ viên của Đại sứ quán
Trung Quốc tại Indonesia đã “sáng tác” ra một tác phẩm hoang đường, sai
sự thật, vu vạ Việt Nam ở thời điểm hiện tại lẫn trong lịch sử.

Ảnh tàu Trung Quốc dùng vòi rồng hung hãn xịt vào tàu chấp pháp của Việt Nam
Ngay bài viết, Liu Hongyang đã hoang ngôn “Khi bạn đang đọc bài viết
này, hàng chục tàu thuyền Việt Nam, trong đó có tàu vũ trang, vẫn đang
đâm tàu chấp pháp của Trung Quốc” và nói rằng đã có “hơn 560 vụ va chạm
có chủ ý như vậy xảy ra trong 3 tuần qua”. Đây không chỉ là lần đầu tiên
phía Trung Quốc có những phát ngôn sai sự thật như vậy. Trong cả 2 cuộc
họp báo (ngày 8/5 và ngày 16/5), Trung Quốc luôn vu cáo và đổ lỗi cho
Việt Nam về những căng thẳng trên Biển Đông. Nhưng khi được hỏi về bằng
chứng để chứng minh những điều trên thì họ không đưa ra được bất cứ điều
gì, cho dù là 1 bức ảnh.
Trong buổi họp báo Quốc tế về việc Trung Quốc đưa giàn khoan xâm phạm
nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam được Bộ ngoại giao nước ta tổ chức ngày
7/5/2014, phía Việt Nam đã cung cấp cho báo chí trong và ngoài nước các
bằng chứng chứng minh tàu Trung Quốc dùng vòi rồng tấn công tàu CSBVN
gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản cho Việt Nam.
Trong khi các bài báo tường thuật về việc giàn khoan TQ xâm phạm lãnh
hải đều có ảnh minh họa rõ ràng việc tàu TQ gây hấn thì bài báo này
cũng như rất nhiều bài khác tương tự thường “lờ” đi hình ảnh minh họa
hiện trường cũng như vị trí đặt giàn khoan.
Nói về sự kiện người dân xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc,
đặc biệt là tình hình tại Bình Dương và Hà Tĩnh, Liu Hongyang đã cố tình
thổi phồng sự việc sai với bản chất nhằm bôi xấu hình ảnh của Việt Nam.
Cho đến thời điểm hiện tại, các nhà chức trách Việt Nam đã hoàn toàn ổn
định được tình hình ở Hà Tĩnh và Bình Dương, thì Liu viết vẫn ngang
nhiên viết: “Khi bạn đang đọc bài viết này, làn sóng bạo lực tại Việt
Nam vẫn chưa hạ nhiệt. Các doanh nhân Trung Quốc tại miền nam Việt Nam
vẫn là nạn nhân của đánh đập, cướp bóc…”.
Nói về vị trí của giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981), Liu
đưa ra lý lẽ giàn khoan cách đảo Zhongjian của Trung Quốc 17 hải lý
trong khi cách bờ biển Việt Nam 150 hải lý nghĩa là vị trí này nằm trong
vùng tiếp giáp lãnh hải với Trung Quốc. Về vấn đề này, chúng tôi xin
trích đăng thông tin từ cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam: “Giàn
khoan Hải Dương 981 thuộc Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc
(CNOOC) đang hoạt động tại tọa độ 15 0 29’N/111 0 12’E bắt đầu từ ngày
2/5 đến nay.
Đối chiếu theo tọa độ trên thì giàn khoan Hải Dương 981 đã xâm phạm
vào Lô 143 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,
cách đảo Lý Sơn 119 hải lý (221km) và cách phía Nam đảo Tri Tôn thuộc
quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 18 hải lý. Đây là khu vực hoàn
toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.Việc làm
này của CNOOC rõ ràng là đã đi ngược lại tinh thần hợp tác hữu nghị giữa
Việt Nam và Trung Quốc, xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982”.
Trắng trợn hơn, Liu nói về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam (phía Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) và đưa ra những chứng cứ
lịch sử hoàn toàn sai sự thật đồng thời diễn giải nội dung công hàm ngày
14/9/1958 của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy
Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất
thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của
Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bài “Công hàm 1958
và vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa” đăng trên báo pháp luật TP.HCM
ngày 14/5/2014 đã phân tích đầy đủ ý nghĩa công hàm của cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng cũng như mưu đồ của Trung Quốc.
“Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ có một nghĩa hẹp là công nhận bề
rộng lãnh hải của Trung Quốc. Do vậy, thật không đúng khi lập luận rằng,
Việt Nam đã “khẳng định lại sự công nhận của họ đối với yêu sách của
Trung Quốc” đối với các quần đảo. Quan trọng hơn, ông Đinh Kim Phúc,
giảng viên khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP.HCM cho rằng: “Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam cũng như Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày
nay chưa bao giờ lên tiếng phủ nhận hoặc ra Nghị quyết từ bỏ chủ quyền
của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.” (trích “Công hàm 1958
và vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa”- Pháp luật TP.HCM).
Trước sự ngang nhiên của Trung Quốc, Việt Nam vẫn hết sức kiềm chế.
Trong những ngày qua, Việt Nam đã sử dụng nhiều kênh đối thoại, nhiều
lần yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của
Việt Nam nhưng Trung Quốc vẫn không thực hiện.
Phía Việt Nam khẳng định “Việt Nam sẽ sử dụng mọi biện pháp phù hợp
với luật pháp quốc tế” để ứng phó với tình hình (dẫn lời Người phát ngôn
Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình tại cuộc họp báo ngày 15/5/2014)
nhưng tác giả Liu Hongyang lại bóp méo sự thật, vu cáo Việt Nam “làm
ngơ” trước các giải pháp đàm phán mà Trung Quốc đưa ra.
Trong bài báo trên, Liu còn bịa khi nói "các nước ASEAN quan ngại về
căng thẳng leo thang do Việt Nam khuấy động”. Thực tế, những chỉ trích,
lên án của các nước trong khu vực Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế trong
thời gian vừa qua cũng đủ cho độc giả biết được ai mới là kẻ “gây rối”,
ai là kẻ khiến người khác quan ngại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét