Theo quy định của luật pháp quốc tế, hiện nay có hai nhóm phương pháp
hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế là nhóm các biện pháp giải
quyết tranh chấp mang tính ngoại giao và nhóm các biện pháp bằng tài phán.
Trong suốt thời gian qua, Việt Nam tập trung giải quyết vấn đề Biển
Đông với Trung Quốc bằng các biện pháp mang tính ngoại giao, như rất
nhiều các cuộc đàm phán song phương về vấn đề Biển Đông mà kết quả
là Thỏa thuận về những nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển
giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2011. Ngoài ra, với tư cách là thành
viên ASEAN, Việt Nam cũng được hưởng những kết quả từ Tuyên bố về ứng
xử của các bên trên biển Đông (DOC) vào năm 2002 đang tiến tới đàm phán
Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC) giữa Trung Quốc và
ASEAN.
Tuy nhiên, bất chấp tất cả những thỏa thuận đạt được, Trung Quốc vẫn
có những hành động hết sức ngang ngược trong suốt thời gian dài như: Hạ
đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm
lục địa của Việt Nam; Đâm húc, phun vòi rồng một cách vô nhân đạo vào
tàu cảnh sát biển Việt Nam đang làm nhiệm vụ; Cắt cáp thăm dò tàu Bình
Minh trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Và rất nhiều
lần tấn công tàu của ngư dân Việt Nam một cách vô lý và trắng trợn… Tất
cả những hành động đó đã khẳng định: “Với Trung Quốc các thỏa thuận đã kí chỉ là mớ giấy lộn”. Hay nói cách khác, các biện pháp ngoại giao không còn hiệu quả nữa.

Tài phán là chiếc vòng kim cô cuối cùng mà chúng ta có thể sử dụng để trấn áp được con dã thú khát máu Trung Quốc
Thực tế, buộc chúng ta phải sử dụng chiếc vòng kim cô cuối cùng mà
luật pháp quốc tế cho phép để chế ngự con dã thú khát máu Trung Quốc, đó chính là biện pháp Tài phán
Tài phán hiểu nôm na là kiện Trung Quốc ra một cơ quan xét xử quốc tế
như Tòa án công lý quốc tế hay Tòa án quốc tế về Luật Biển… Phương pháp
này có một số ưu điểm như:
Thứ nhất, tính bắt buộc cao hơn thỏa thuận song phương. Theo quy định của điều 94 Hiến chương Liên hợp quốc: “Mọi thành viên Liên hợp quốc cam kết tuân theo phán quyết của Tòa án quốc tế trong mọi vụ tranh chấp mà hội viên ấy là đương sự”. Chính vì thế, tài phán là biện pháp cứng rắn và mạnh mẽ hơn rất nhiều so với các biện pháp ngoại giao.
Thứ hai, Tòa án xét xử công khai nên các chứng cứ
của hai bên sẽ được công bố rộng rãi. Điều này sẽ bẻ gãy được chính sách
mập mờ, buộc Trung Quốc phải “quốc tế hóa” trong giải quyết vấn đề Biển
Đông.
Ngoài ra, với việc công khai đưa chứng cứ và đơn khởi kiện trước Tòa,
đã “pháp lý hóa” sự phản đối đường lưỡi bò của Việt Nam. Đây sẽ là bằng
chứng pháp lý mạnh mẽ tránh cho Việt Nam không rơi vào bẫy
“acquiescement” (thụ động trong thời gian dài) vì trong suốt thời gian
qua ta chỉ phản đối thông qua các công hàm ngoại giao còn yếu về mặt
pháp lý.
Tòa
án Công lý quốc tế ICJ – với tư cách là một cơ quan của Liên hợp quốc,
ra đời đã gần một thế kỉ, với kinh nghiệm giải quyết phong phú cùng uy
tín trên trường quốc tế
Nhưng khi sử dụng tài phán nói trên, chúng ta có thể gặp những khó khăn như:
*Trong vấn đề giải quyết tranh chấp biển Đông, từ trước đến nay chính
sách của Trung Quốc là “ba không”: không nêu rõ yêu sách, không đàm
phán đa phương và không quốc tế hóa tranh chấp. Trong “không quốc tế hóa
tranh chấp”, Trung Quốc đã thực hiện những chiến lược để tránh bị các
cơ quan tài phán quốc tế xét xử tức là không cho phép các cơ quan xét xử
quốc tế can thiệp vào vấn đề Biển Đông. Trung Quốc đã tuyên bố vào ngày
25/8/2006 là không đồng ý chọn các cơ quan tài phán theo UNCLOS để giải
quyết các tranh chấp liên quan đến phân định ranh giới biển (khi gia
nhập UNCLOS Trung Quốc đã bảo lưu điều khoản kiện Trung Quốc ra trước
ITLOS).
Vì vậy, các bên khó có thể kiện Trung Quốc trước Tòa, ngay cả khi
hành xử của Trung Quốc rõ ràng vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và
UNCLOS.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét