Cần cân nhắc nếu đặt vấn đề kiện TQ
Thưa ông, những hành động ngang ngược của TQ đã thúc đẩy dư luận
trong và ngoài nước cho rằng, đây là lúc chúng ta nên khởi kiện TQ ra
tòa án công lý quốc tế. Quan điểm của ông thế nào?
Tôi không phản đối phương án này. Tuy nhiên, tôi cho rằng, trong bối
cảnh, tình hình hiện nay cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp của
Tòa án Công lý quốc tế (Internation Court of Justice – ICJ) – Cơ quan tư
pháp chính của LHQ, chúng ta cần nghiên cứu rất thận trọng. Bởi vì, cơ
chế giải quyết tranh chấp của các quốc gia giải quyết tại tòa án công lý
quốc tế là không đơn giản.
Tôi nói không đơn giản hay nói cách khác là đặc biệt phức tạp vì
yếu tố chính trị, liên quan đến các kết luận và phán quyết của Tòa án
công lý quốc tế. Ví dụ, ngay sau khi Kosovo tuyên bố độc lập, tách khỏi
Serbia năm 2008, thông qua Đại hội đồng Liên Hợp quốc, Serbia đã yêu cầu
Tòa án Công lý quốc tế kết luận tư vấn với câu hỏi, Kosovo tuyên bố độc
lập có phù hợp với luật quốc tế hay không?
Sau hai năm, Tòa án đã kết luận Kosovo tuyên bố độc lập là phù hợp
với luật quốc tế. Theo tôi, đây là một kết luận mang màu sắc chính trị,
không phù hợp với pháp luật quốc tế, tạo ra tiền lệ nguy hiểm, cổ vũ cho
các hành động ly khai, đòi độc lập của các vùng lãnh thổ “nhạy cảm” ở
một số quốc gia trên thế giới. Nếu công bằng, đúng luật pháp quốc tế,
Tòa án nên kết luận rằng, việc Kosovo tuyên bố độc lập, tách khỏi Serbia
là vi phạm pháp luật quốc tế. Thế nhưng, Tòa án lại ra kết luận tư vấn
gần như đi ngược lại.
Từ thực tiễn đó, tôi cho rằng, chúng ta cần phải cân nhắc hết sức
thận trọng khi lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án Công lý
quốc tế. Bởi lẽ, với ảnh hưởng của một cường quốc như TQ, là thành viên
thường trực Hội đồng Bảo an LHQ thì yếu tố chính trị làm ảnh hưởng đến
phán quyết của Tòa án cũng là điều có thể xẩy ra.
Điều tôi đặc biệt lưu ý ở đây là, khi chúng ta đặt vận mệnh của quốc
gia về lãnh thổ, về chủ quyền, về quyền chủ quyền, quyền tài phán đối
với các vùng biển, đảo thiêng liêng của tổ quốc vào 15 Thẩm phán của Tòa
án công lý quốc tế có nghĩa là chúng ta đã trao toàn quyền phán quyết
cho Tòa án, theo tôi như vậy là nguy hiểm.
Bởi kiện hay không là quyền của chúng ta (tất nhiên là phải tuân thủ
các điều kiện, quy trình, thủ tục rất phức tạp theo Quy chế của Tòa án)
nhưng phán quyết như thế nào, có lợi cho chúng ta hay không lại thuộc
thẩm quyền của Tòa. Có nghĩa là mình đã yêu cầu Tòa giải quyết thì khi
Tòa ra phán quyết mình phải tuân thủ, thực thi phán quyết đó.
Theo Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế, phán quyết có giá trị chung
thẩm, không có kháng cáo kháng nghị hay phúc thẩm và có hiệu lực thi
hành ngay lập tức! Và nếu một bên ở trong vụ tranh chấp đã đồng thuận
giải quyết tại Tòa án mà không thực thi phán quyết của Tòa thì bên kia
có quyền yêu cầu Hội đồng Bảo an LHQ can thiệp để buộc thi hành.

Cuộc rượt đuổi hết tốc độ kéo dài hàng hải lý trên biển của tàu Hải cảnh Trung Quốc đối với tàu Kiểm ngư Việt Nam. Ảnh: VOV
Thế bây giờ, tôi đặt vấn đề trong bối cảnh hiện nay, nếu TQ bị Tòa
tuyên là sai và phải thực thi những quyết định của Tòa, TQ không tuân
thủ, không thực thi, Hội đồng Bảo an thực hiện cưỡng chế đối với TQ,
được không? Rất khó!
Nhưng ngược lại, Tòa phán VN thua kiện, tất nhiên điều này không ai
mong muốn cả và nội tâm của tôi, với những bằng chứng pháp lý và lịch sử
vững chắc, thuyết phục của Việt Nam, tôi khẳng định là VN sẽ thắng,
nhưng một trường hợp nhỏ nhất, khả năng xấu nhất (do cách nhìn và quan
điểm của các Thẩm phán của Tòa án Công lý quốc tế) VN thua kiện thì VN
phải tuân thủ phán quyết của Tòa. Bởi vì, VN chúng ta không thể không
tuân thủ, thực thi, chống lại phán quyết của Tòa án khi chúng ta đã tự
nguyện trao cho Tòa này thẩm quyền giải quyết, chúng ta không mạnh,
không có ảnh hưởng lớn như những cường quốc khác.
Quan điểm của tôi là phải làm thận trọng. Đến thời điểm hiện nay VN
chỉ nên dùng các cơ chế đa phương của ASEAN, của ARF (Diễn đàn khu vực
ASEAN, “ASEAN Regional Forum”, được thành lập năm 1994 nhằm thúc đẩy cơ
chế đối thoại và tham vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu
vực, xây dựng lòng tin và phát triển ngoại giao phòng ngừa. Khẩu hiệu
của ARF là “Xúc tiến hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở Châu
Á Thái Binh Dương”), diễn đàn LHQ để chúng ta công bố tình hình đó cho
thế giới biết về phương diện ngoại giao là ổn và để chúng ta tìm những
bước đi pháp lý tiếp theo.
Công ước 1982 là giải pháp là hiệu quả
Vậy VN có thể vận dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước 1982 để giải quyết vụ việc này được không?
Tôi khẳng định, về phương diện pháp lý, cơ sở pháp lý, VN hoàn toàn
có khả năng để tìm tới lựa chọn các giải pháp để giải quyết tranh chấp
theo quy định của Công ước quốc tế về luật biển 1982.

TS Ngô Huy Phước. Ảnh: Duy Chiến
Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982 về giải quyết tranh chấp,
tôi cho rằng, chúng ta cần tiếp tục nghiên chứ không nên nóng vội khởi
kiện tại Tòa án công lý quốc tế.
Tòa trọng tài đặc biệt về luật biển chỉ có chức năng điều tra và xác
lập các sự kiện từ nguồn gốc vụ tranh chấp liên quan đến đánh bắt hải
sản, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển và hàng
hải, kể cả nạn ô nhiễm do các tàu thuyền hay do nhận chìm chứ không
thực sự là cơ quan có chức năng “giải quyết tranh chấp” như Tòa trọng
tài quốc tế về luật biển.
Tòa này chỉ có thể thảo ra các khuyến nghị không có tính ràng buộc
các bên tranh chấp phải thực hiện mà chỉ là cơ sở để các bên tranh chấp
xem xét lại những vấn đề làm phát sinh tranh chấp mà thôi. Còn Tòa án
quốc tế về luật là một cơ quan thường trực có trụ sở tại Hamburg (Đức)
nhưng từ trước tới nay tòa này giải quyết tranh chấp không nhiều các
tranh chấp về giải thích và thực hiện Công ước và thực tế rất ít quốc
gia khi phê chuẩn, gia nhập Công ước 1982 lựa chọn Tòa án quốc tế về
luật biển để giải quyết tranh chấp.
Qua nghiên cứu, tôi thấy các quốc gia trên thế giới có xu hướng chọn
tòa trọng tài quốc tế về luật biển để giải quyết các tranh chấp. Theo
tìm hiểu của tôi, từ khi Công ước 1982 có hiệu lực đến nay, Tòa trọng
tài quốc tế về luật biển đã và đang giải quyết một số vụ tranh chấp giữa
Banladesh kiện Ấn Độ về việc phân định biên giới biển giữa hai nước
theo Điều 287, Phụ lục VII của Công ước 1982 vào tháng 10 năm 2009. Hiện
nay vụ việc đang được tiến hành; Vụ Irlande kiện Vương quốc Anh liên
quan đến nhà máy MOX tháng 11 năm 2011.
Hiện nay vụ việc đang được tiến hành; Vụ Malaysia kiện Singapore liên
quan đến khai thác và sử dụng biển vào tháng 7 năm 2003. Vụ việc đã
được giải quyết bằng phán quyết của Tòa trọng tài ngày 01/9/2005; Vụ
Barbados kiện Trinidad và Tobago về việc phân định ranh giới Vùng Đặc
quyền Kinh tế và Thềm lục địa tháng 02/2004. Vụ việc đã được giải quyết
bằng phán quyết của Tòa trọng tài ngày 11/4/2006; Vụ Guyana kiện
Suriname liên quan đến việc phân định biên giới trên biển giữa hai nước
ngày 24/02/2004.
Vụ việc đã được giải quyết phán quyết định của Tòa trọng tài ngày
17/9/2007; Vụ Mauritius kiện Vương quốc Anh về khu bảo tồn biển xung
quanh quần đảo Chagos vào ngày 20/9/2010. Vụ việc này đang được giải
quyết; Vụ Philippines kiện Trung quốc về các yêu sách về chủ quyền và
quyền chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông ngày 22/01/2013. Hiện vụ
việc đang được giải quyết.
Tôi đặc biệt lưu ý rằng, Tòa trọng tài quốc tế về luật biển không có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ về biên giới, mà chỉ có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình giải thích và thực hiện Công ước 1982 mà thôi.
Ví dụ, TQ đã tuyên bố đường chữ U 9 đoạn trên Biển Đông mà VN gọi là
đường lưỡi bò, vì TQ cho rằng, theo Công ước TQ có các vùng biển đó. Như
vậy, họ đã giải thích Công ước không đúng. Mà khi họ giải thích Công
ước không đúng thì dẫn đến hệ quả nguy hiểm là họ đã thực hiện Công ước
không đúng và điều đó đã xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền
tài phán của Việt Nam và các nước trong khu vực. Đó là căn cứ pháp lý và
căn cứ thực tiễn rất quan trọng để VN dựa vào đó để nói rằng, VN khởi
kiện TQ ra tòa trọng tài quốc tế về luật biển là vì TQ đã giải thích và thực hiện Công ước 1982 không đúng.
Còn nếu chúng ta đi kiện theo kiểu, Hoàng Sa, Trường Sa là của VN hay
của TQ để yêu cầu Tòa trọng tài quốc tế về luật biển giải quyết thì tôi
xin thưa là Tòa này không giải quyết được. Bởi vì, theo Công ước 1982,
Tòa trọng tài quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong quá trình giải thích và thực hiện Công ước.
Cũng cần nói thêm rằng, các quy định về giải quyết tranh chấp của
Công ước 1982 theo thủ tục bắt buộc để ra các phán quyết bắt buộc thì
gần như “dồn trách nhiệm” cho Tòa trọng tài quốc tế về luật biển. Bởi
vì, theo quy định tại Điều 287 của Công ước, nếu một quốc gia thành viên
tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có hiệu
lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở
Phụ lục VII (Thủ tục của Tòa trọng tài quốc tế về luật biển); Nếu các
bên tranh chấp không chấp nhận cùng một thủ tục để giải quyết tranh
chấp, thì vụ tranh chấp đó chỉ có thể được đưa ra giải quyết theo thủ
tục trọng tài đã được trù định ở Phụ lục VII, trừ khi các bên có thỏa
thuận khác.
Chính vì vậy, trong tương lai VN cần nghiên cứu, cân nhắc, tính toán
để có chọn một giải pháp pháp lý hiệu quả để giải quyết tranh chấp. Giải
pháp khởi kiện ra tòa trọng tài quốc tế được thành lập theo Công ước
1982 là một giải pháp theo tôi là hiệu quả
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét