Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Trung Quốc bắt nhân viên cứu trợ Mỹ

Trung Quốc bắt nhân viên cứu trợ Mỹ

Peter Hahn, 74 tuổi, một nhân viên cứu trợ người Mỹ gốc Triều Tiên, bị Trung Quốc bắt giữ tại thành phố giáp biên giới Triều Tiên.
 
han-2031-1419044540.jpg
Ông Peter Hahn. Ảnh: Iamkoream
Ông Hahn bị nhà chức trách Bắc Kinh bắt với cáo buộc biển thủ của công và sở hữu các hóa đơn giả, AP dẫn tin từ Zhang Peihong, luật sư của ông này cho biết hôm qua.
Luật sư Zhang được các công tố viên ở tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc báo về việc bắt giữ ông Hahn. Zhang cho rằng cáo buộc dường như là một cái cớ để buộc tội ông Hahn vì cung cấp thực phẩm cho trẻ em Triều Tiên.
Hahn là người phụ trách trường dạy nghề cho thiếu niên Trung Quốc và Triều Tiên ở thị trấn Đồ Môn, tỉnh Cát Lâm, hơn một thập kỷ nay. "Tôi không lạc quan về việc ông ấy bị bắt giữ. Các cáo buộc rõ ràng không có giá trị", Zhang nói. Hiện Trung Quốc chưa ấn định ngày xét xử ông Hahn.
Sinh ra ở Triều Tiên nhưng ông Hahn được nhập quốc tịch Mỹ. Ông từng là nhân viên hoạt động xã hội ở Los Angeles, California, Mỹ. Sau khi nghỉ hưu, ông chuyển đến Đồ Môn với hy vọng giúp đỡ người Triều Tiên. Hahn có hai hiệu bánh tại Triều Tiên, chuyên làm bánh cho học sinh. Trường Hướng nghiệp Sông Đồ Môn của ông đào tạo hướng nghiệp cho những thiếu niên cơ nhỡ, theo Los Angeles Times. 
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki xác nhận việc Hahn bị bắt giữ. Một quan chức lãnh sự Mỹ đến thăm Hahn trong nhà giam hôm qua. Tổng lãnh sự quán của Mỹ tại tỉnh Sơn Đông cũng hỗ trợ các công việc cần thiết. Hiện Bộ Ngoại giao Trung Quốc chưa có phản hồi về vụ việc.
AP bình luận việc bắt giữ ông Hahn là một dấu hiệu cho thấy Trung Quốc quan tâm tới hoạt động của người nước ngoài ở khu vực biên giới. Đầu năm nay, nhà chức trách Trung Quốc cũng giam giữ hai người Canada là Kevin và Julia Garratt, sống ở Đan Đông, Liêu Ninh, một thị trấn khác gần biên giới Triều Tiên, vì cáo buộc đánh cắp thông tin quân sự và tình báo. Hiện tình trạng của họ chưa rõ.
Khánh Lynh

Trung Quốc nổi giận vì Mỹ bán chiến hạm cho Đài Loan

Trung Quốc nổi giận vì Mỹ bán chiến hạm cho Đài Loan

Trung Quốc cho biết nước này đã trao công hàm phản đối cho Mỹ, sau khi Tổng thống Barack Obama thông qua việc bán 4 tàu khu trục nhỏ tên lửa dẫn đường cho Đài Loan.
 
USS Vandegrift, tàu khu trục lớp Perry của Hải quân Mỹ. Ảnh: USNavy
USS Vandegrift, tàu khu trục lớp Perry của Hải quân Mỹ. Ảnh: USNavy
"Trung Quốc kiên quyết phản đối việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Lập trường này là kiên quyết, rõ ràng và nhất quán", Reuters dẫn lời ông Tần Cương, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc, hôm qua nói.
Ông Tần cho biết vấn đề Đài Loan là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và đến nay vẫn là chủ đề nhạy cảm nhất, quan trọng nhất trong quan hệ Mỹ - Trung. "Trung Quốc bày tỏ sự bất bình mạnh mẽ và kiên quyết phản đối điều này, và đã trao công hàm phản đối Mỹ cả ở Bắc Kinh và Washington. Chúng tôi có quyền có những động thái thêm nữa".
Tổng thống Obama hôm 19/12 ký thành luật Đạo luật Chuyển giao tàu Hải quân 2013, mở đường cho việc bán 4 tàu khu trục nhỏ hải quân nước này đã thôi sử dụng.
Cơ quan phòng vệ Đài Loan cảm ơn Mỹ vì thông qua thương vụ, cho rằng nước này đang cam kết thực hiện Đạo luật về Quan hệ với Đài Loan để hỗ trợ an ninh hòn đảo. Cơ quan này ban đầu định mua hai chiếc tàu lớp Perry.
Theo đạo luật trên, Mỹ có nghĩa vụ trợ giúp Đài Loan phòng vệ trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công. Đạo luật có hiệu lực từ năm 1979 khi Washington cắt quan hệ ngoại giao chính thức với hòn đảo này để công nhận một nhà nước Trung Quốc.
Trọng Giáp

Trung Quốc sắp hạ thủy tàu tuần duyên lớn nhất thế giới

Trung Quốc sắp hạ thủy tàu tuần duyên lớn nhất thế giới

Trung Quốc dự kiến hạ thuỷ và biên chế tàu tuần duyên lớn nhất thế giới với lượng giãn nước lên tới 12.000 tấn trong năm tới.
 
tq-3696-1419015076.jpg
Bức ảnh về chiếc tàu tuần duyên Trung Quốc đang đóng bị rò rỉ trên mạng cuối tuần trước. Ảnh: SCMP
Một bức ảnh bị rò rỉ lên mạng cuối tuần qua cho thấy một con tàu đỗ tại xưởng đóng ở trạng thái gần hoàn tất. Tàu được sơn màu trắng, với những sọc đỏ và xanh, dấu hiệu tuần duyên Trung Quốc. Thân tàu có sơn dòng chữ "Tuần duyên Trung Quốc 2901". Con tàu mới sẽ có lượng giãn nước 12.000 tấn, các báo cáo cho biết.
Trang tin Guancha.cn có trụ sở tại Bắc Kinh cho rằng nước này sẽ sớm hạ thuỷ con tàu tuần duyên lớn nhất, thứ có thể đem đến ưu thế đáng kể cho Bắc Kinh trong tranh chấp với Nhật quanh chuỗi đảo không người ở trên biển Hoa Đông. Theo các báo cáo, tàu sẽ được triển khai sớm nhất là vào mùa xuân năm tới.
Sau khi hoàn thành, tàu sẽ vượt hai con tàu tuần tra lớp Shikishima của Tuần duyên Nhật để trở thành tàu tuần duyên lớn nhất thế giới, truyền thông Trung Quốc cho hay. Hiện tàu phá băng Healy của Mỹ vẫn là tàu tuần duyên lớn nhất thế giới, với lượng giãn nước 16.000 tấn, nhưng nó chủ yếu tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học ở các vùng cực.
Một tàu tuần duyên lớp Shikishima của Nhật. Ảnh:
Một tàu tuần duyên lớp Shikishima của Nhật. Ảnh: Wikipedia
Tàu lớp Shikishima, lớn nhất Nhật Bản, có lượng giãn nước khoảng 9.300 tấn, trong khi tàu tuần tra lớn nhất của Trung Quốc hiện là tàu Haijian 50, với lượng giãn nước dưới 4.000 tấn.
Những bài báo trước đó của Trung Quốc cho biết con tàu sẽ được trang bị một khẩu pháo chính khai hoả nhanh 76 mm, hai khẩu phụ và hai khẩu pháo phòng không, có thể chở hai trực thăng.
Con tàu tuần tra mới sẽ do lực lượng Tuần duyên Trung Quốc điều hành, nhiều khả năng triển khai ở biển Hoa Đông, nơi nước này có tranh chấp lãnh thổ với Nhật quanh chuỗi đảo Senkaku/Điếu Ngư. Lực lượng Tuần duyên Trung Quốc được thiết lập năm ngoái nhằm thực hiện nghiên cứu hàng hải, cứu hộ và tuần tra.
Các báo cáo trước đó nhận dạng công ty đóng tàu là Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (CSIC), một trong hai "gã khổng lồ" về ngành đóng tàu ở nước này. Nhưng những bức ảnh mới rò rỉ trên mạng lại cho thấy con tàu đỗ tại Xưởng đóng tàu Jiangnan, một chi nhánh của Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước (CSSC).
Theo South China Morning Post, cả Xưởng đóng tàu Jiangnan và CSSC đều không thể tiếp cận được để xin bình luận. Những bức ảnh trên mạng cũng cho thấy một tàu vận tải đổ bộ type - 071 đang được đóng tại xưởng, có khả năng chở trực thăng.
Trọng Giáp

Trung Quốc lập mạng lưới giám sát biển

Trung Quốc lập mạng lưới giám sát biển

Trung Quốc sẽ thiết lập mạng lưới quan sát ngoài khơi, bao gồm vệ tinh và các trạm radar, để cải thiện sức mạnh trên biển, động thái được cho là sẽ làm trầm trọng thêm căng thẳng trong khu vực.

English: The China Marine Surveillance cutter "Haijian 66" and the Japan Coast Guard cutter "Kiso" confronted each other near the disputed islands in East China Sea known as the Senkaku Islands in Japan and Diaoyu Islands in China.
Tàu hải giám Haijian 66 của Trung Quốc đối đầu với tàu Kiso của lực lượng tuần duyên Nhật Bản gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư năm 2012. Ảnh: Wikipedia.
Mạng lưới dự kiến hoàn thiện vào năm 2020. Một quan chức thuộc Cơ quan Hải dương Quốc gia Trung Quốc gọi mạng lưới trên là "cơ sở" để bảo vệ lợi ích trên biển của Trung Quốc, tờ China Daily hôm nay cho biết. Mạng lưới này sẽ bao trùm lên các vùng biển ở ven bờ, ngoài khơi và địa cực. Các trạm quan sát hoạt động dưới biển và hệ thống cảnh báo sóng thần cũng được xây dựng.
Tờ báo cho biết mạng lưới sẽ giúp Trung Quốc thấy rõ tiềm năng tài nguyên tại những vùng biển của nước này nhưng không tiết lộ chi phí xây dựng.
Động thái này được cho là sẽ làm trầm trọng thêm căng thẳng trong khu vực. Nhiều quốc gia láng giềng, gồm Nhật Bản, Philippines và Việt Nam, đã bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc tăng cường quân đội và gia tăng các hành động hiếu chiến trên biển.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với gần như toàn bộ Biển Đông, khu vực được cho là giàu tài nguyên và có trữ lượng dầu khí lớn, bất chấp sự phản đối từ các nước láng giềng.
Trên biển Hoa Đông, Trung Quốc có tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Các tàu tuần tra và chiến đấu cơ hai nước luôn theo dõi lẫn nhau ở gần quần đảo không người này, làm dấy lên lo ngại xảy ra va chạm, có thể leo thang thành đụng độ quy mô lớn.
Tổng thống Mỹ Barack Obama tháng trước tìm cách trấn an các đồng minh ở châu Á - Thái Bình Dương về sự thay đổi chiến lược đối với khu vực. Ông cam kết tiếp tục những nỗ lực tăng cường quan hệ an ninh với các quốc gia, trong đó có Nhật Bản và Việt Nam.
Washington tháng trước còn kêu gọi Bắc Kinh ngừng dự án cải tạo, bồi đắp đất ở quần đảo Trường Sa sau khi các báo cáo phân tích hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang xây đảo nhân tạo trên một bãi cạn với diện tích đủ lớn cho một đường băng. Trung Quốc lại ngang ngược cho rằng nước này có "chủ quyền không tranh cãi" với quần đảo Trường Sa và nói Mỹ đưa ra "những lời nhận xét vô trách nhiệm".
Như Tâm

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Thách thức đại chiến lược Trung Quốc

Thách thức đại chiến lược Trung Quốc: Xây đảo trên Biển Đông


biendong

Tác giả: Alexander Vuving, “China’s Grand-Strategy Challenge: Creating Its Own Islands in the South China Sea”, The National Interest, 8/12/2014.
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Quang Khải
Những hình ảnh chụp từ vệ tinh được tờ tạp chí tình báo quốc phòng IHS Jane’s phân tích cho thấy Trung Quốc đang xây dựng trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa một doi đất mang hình dáng sân bay dài 3.000m và một hải cảng đủ lớn cho các tàu chở dầu và tàu chiến lớn neo đậu. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm vậy, đảo này là hòn đảo mới nhất được Trung Quốc xây dựng trong chuỗi hành động xây đảo lấn biển mà nước này đang tiến hành ở cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông.
Trung Quốc xây đảo để làm gì? Mục đích tối thượng của những dự án này là gì? Lăng kính thông thường chúng ta sử dụng để giải mã các động thái chiến lược trên trường quốc tế không phù hợp để trả lời những câu hỏi ấy. Lăng kính thông thường nhìn trò chơi giữa các quốc gia dưới góc độ cờ vua, nhưng ở biển Đông, Trung Quốc lại đang chơi cờ vây.
Cờ vây (weiqi) là loại cờ cổ xưa nhất Trung Hoa (được biết đến ở phương Tây qua tên gọi của người Nhật là go), mang nhiều điểm tương đồng với một dòng tư duy chiến lược truyền thống có nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa. Trong khi cờ vua là trò chơi chiếu tướng thì cờ vây, như tên gọi của nó, lại là trò bao vây. Trong cờ vây, không có vua, hậu hay tốt mà chỉ có những quân cờ giống nhau, quyền lực của chúng phụ thuộc vào vị trí của chúng trong tương quan rộng lớn hơn trên bàn cờ. Nếu như cờ vua là cuộc chiến giữa hai đội quân thì cờ vây là cuộc chiến của những tính toán định hình bàn cờ. Người chơi cờ vua giỏi nhắm đến việc đập tan sức mạnh cứng của đối phương, người chơi cờ vây giỏi nhắm đến việc kiểm soát các vị trí chiến lược, từ đó lan tỏa sức mạnh dựa trên vị trí.
Nếu coi biển Đông là một bàn cờ vua thì những động thái của Trung Quốc ở đó hầu như chỉ là vặt vãnh. Hầu như chỉ có tốt tiến quân, trong khi những quân cờ quyền lực hơn không có mấy động thái. Có lẽ vị trí đáng gờm nhất trên bàn cờ là căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Du Lâm phía nam đảo Hải Nam. Tuy nhiên, căn cứ này không nằm trong vùng biển tranh chấp. Quân đội hiếm khi là lực lượng chính tham gia vào tranh chấp biển Đông, mà chủ yếu là tàu đánh bắt cá và tàu hải giám. Và tâm điểm tranh chấp lại là những đá nhỏ, không thể cư ngụ và thường chìm.
Thoạt nhìn trò chơi này dưới góc độ cờ vua, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ từng nói “các cường quốc không gây chiến với nhau chỉ vì những hòn đá” và một học giả hàng đầu về hàng hải Trung Quốc kết luận “những căng thẳng giữa một cường quốc mới nổi và các nước láng giềng là tự nhiên và không cấu thành mối đe dọa đáng kể nào đối với cân bằng quyền lực toàn cầu cũng như hoạt động bình thường của hệ thống quốc tế.”
Nhưng dưới con mắt của người chơi cờ vây, những gì mà Trung Quốc làm ở biển Đông là ví dụ kinh điển cho thấy nước này đã chơi môn cờ vây tài tình thế nào. Mục đích tối thượng là nhằm kiểm soát khu vực. Chiến lược để đạt được mục đích này dựa vào việc lấn dần, chứ không phải những trận giao tranh lớn. Lấn dần (creeping expansion – hay tằm ăn dâu – NBT) là một chiến lược đã được thực hiện trong suốt nhiều thập kỷ. Song song với chiến lược này là chiến lược cắt lát salami và ngoại giao gậy nhỏ (small-stick diplomacy – tức đe dọa ở mức độ vừa phải – NBT). Logic ẩn dưới đó là dần dần biến chuyển tình hình theo hướng có lợi cho sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách khéo léo dùng thủ đoạn thay đổi thế chiến lược trong khu vực.
Chiến lược này đòi hỏi một số bước đi cần thiết, thực hiện tuần tự. Đầu tiên là hết sức tránh các cuộc xung đột vũ trang công khai; có thể khởi phát xung đột nhỏ, nhưng việc ấy chỉ được thực hiện nhằm lợi dụng tình hình vốn đã có lợi cho Trung Quốc. Bước thứ hai là kiểm soát những điểm chiến lược nhất trên biển; nếu không kiểm soát từ trước thì có thể lén lút chiếm, thậm chí có thể có xung đột nhỏ nếu cần. Bước thứ ba là phát triển những điểm đó thành điểm kiểm soát mạnh, tích cực xây dựng các trung tâm hậu cần và căn cứ hiệu quả để phô trương sức mạnh. Lịch sử can dự của Trung Quốc ở xung đột biển Đông cho thấy nước này đã theo sát những đường đi nước bước kể trên.
Mặc dù Trung Quốc sẵn sàng lao vào đối đầu quân sự, nhưng nước này vẫn thường tránh viện đến các cuộc chiến vũ trang lớn để mở rộng không gian kiểm soát. Trong suốt sáu mươi năm qua, chỉ có hai lần Bắc Kinh xung đột quân sự để chiếm đảo. Lần thứ nhất vào tháng Giêng năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa, kết thúc với việc Trung Quốc chiếm nửa phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Lưỡi Liềm. Lần thứ hai là một xung đột nhỏ hơn nhiều, nhưng cũng không kém phần đẫm máu với nước Việt Nam thống nhất tại Đá Gạc Ma hồi tháng Ba năm 1988.
Điểm đáng chú ý ở hai lần đối đầu này là chúng đều xảy ra khi trong khu vực này xuất hiện một khoảng trống quyền lực lớn. Lần thứ nhất, Mỹ đang rút quân khỏi khu vực này, và lần thứ hai là khi Liên Xô rút dần sự hiện diện. Trong cả hai lần, Trung Quốc đều được hưởng lợi từ cái gật đầu ngầm của Mỹ, nhân tố quyền lực nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mở rộng. Vì thế, những cuộc xung đột quân sự ấy không gây ra nhiều hệ lụy về mặt ngoại giao (cho Trung Quốc).
Bước đi thứ hai được phản ánh rất rõ trong cách Bắc Kinh chọn các địa điểm chiếm đóng trong khu vực đang tranh chấp. Khi Trung Quốc và Việt Nam tranh giành vị thế ở quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã chọn chất lượng bù số lượng. Trung Quốc chiếm 6 đảo trong khi Việt Nam chiếm 11 đảo. Nhưng năm trong số sáu đảo đó là những vị trí chiến lược nhất trong quần đảo.
Lựa chọn đầu tiên của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa là Đá Chữ Thập, một trong những đảo tốt nhất trong quần đảo xét về vị trí và khả năng mở rộng. Rạn san hô này án ngữ vị trí lý tưởng cửa ngõ phía Tây của quần đảo Trường Sa và là một trong số ít các địa vật trong quần đảo này gần các tuyến hải hành xuyên đại dương đi qua biển Đông. Đá Chữ Thập không quá gần cũng không quá xa các nhóm đảo khác, lợi thế giúp giảm khả năng bị tấn công đồng thời mở rộng không gian ảnh hưởng.
Ngoài ra, Đá Chữ Thập còn chiếm một khu vực rộng 110 km vuông, một trong những địa vật lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Bốn trong số năm địa vật còn lại là đá Subi, đá Gaven, đá Gạc Ma và đá Châu Viên nằm ở rìa bốn nhóm đảo khác nhau, từ đó có thể kiểm soát một vùng biển rộng lớn và những tuyến hải hành chủ chốt ở quần đảo Trường Sa. Sau này Trung Quốc còn chiếm thêm hai địa vật nữa cũng có giá trị chiến lược vô cùng to lớn.
Đá Vành Khăn mà Trung Quốc lén lút chiếm của Philippines hồi cuối năm 1994, đầu năm 1995 nằm ngay trung tâm cánh phía đông của quần đảo Trường Sa và rất gần các tuyến hải hành trọng điểm dọc phía đông biển Đông. Bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc chiếm năm 2012 với chiến lược ngoại giao gậy nhỏ và “ngoại giao lật lọng” (double-dealing diplomacy)[1] bao quát góc đông bắc biển Đông và là chốt canh lý tưởng nhằm kiểm soát các tuyến hải hành chính qua khu vực này.
Với việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Scarbourough và các đảo nhân tạo chiến lược khác trong quần đảo Trường Sa, Trung Quốc có lợi thế hơn bất cứ nước nào khác trong việc kiểm soát cái mà Robert Kaplan gọi là “yết hầu của các tuyến đường biển toàn cầu”. Chẳng hạn, đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa), Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough tạo thành một chòm sao bốn điểm với bán kính chỉ 250 hải lý từ đó có thể kiểm soát chặt chẽ toàn bộ biển Đông.
Điều đó có nghĩa là để trở thành lãnh chúa trên biển Đông, Trung Quốc chỉ cần phát triển những tài sản ấy thành nền tảng vững chắc có thể cung cấp hậu cần cho một mạng lưới tàu đánh cá, tàu hải giám, tàu ngầm và máy bay nhằm thống trị bầu trời và vùng nước khu vực này, cũng như một số vùng đất để thiết lập những khu kinh tế và an ninh rộng.
Đó chính xác là những gì Bắc Kinh đang tiến hành. Sáu mươi năm trước đảo Phú Lâm chỉ là một bãi cát không người ở, nay đã có gần 1.000 người, cả dân lẫn binh lính. Cơ sở vật chất lưỡng dụng bao gồm một sân bay với một đường băng 2.700m và một đường dẫn máy bay song song, có sức chứa hơn tám máy bay thế hệ thứ tư như tiêm kích SU-30MKK và máy bay đánh bom JH-7, một cảng nước sâu 1.000m có thể cho phép tàu tải trọng 5.000 tấn neo đậu.
Từ năm 2013, Trung Quốc cũng tiến hành các dự án xây dựng khổng lồ ở phía nam quần đảo Trường Sa hòng biến những đá mà nước này chiếm được thành đảo. Theo một quan chức tình báo cấp cao của Đài Loan tên là Lý Tường Trụ (Lee Hsiang-chou), chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thông qua kế hoạch mở rộng đảo lấn biển để xây dựng các cơ sở quân sự trên năm đảo nhỏ trong vùng biển này, trong đó có Đá Châu Viên, Đá Gạc Ma, Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa và Đá Chữ Thập.
Trong số những dự án xây đảo ấy, gây nhiều tác động nhất phải kể đến dự án Đá Chữ Thập. Từ một rạn san hô chìm, Đá Chữ Thập sẽ sớm trở thành đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Sau khi lấn biển, với diện tích đất dự kiến đạt 2km vuông, Đá Chữ Thập sẽ lớn gấp bốn lần đảo tự nhiên lớn nhất trong quần đảo là Ba Bình hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng. Khu vực mở rộng này cho phép Đá Chữ Thập chứa được một sân bay với đường băng 3.000m, một cảng nước sâu, các trạm radar, vài tên lửa tầm trung và tầm xa, kho bãi và cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ khác đủ khả năng hỗ trợ hàng trăm tàu cá, tàu hải giám, tàu chiến và máy bay.
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trong tương lai gần đến trung hạn Bắc Kinh tiếp tục xây đường băng sân bay và cảng nước sâu ở Subi, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough và thiết lập một vùng nhận dạng phòng không ở biển Đông.
Với các đảo được mở rộng và xây mới ở các vị trí chiến lược, Trung Quốc có nhiều khả năng hơn tất cả các cường quốc khác trong việc giành thế thống trị trên không và trên biển ở biển Đông. Mặc dù Bắc Kinh vẫn còn cả một con đường dài phía trước, nhưng trong vòng hai mươi năm nữa viễn cảnh một biển Đông la liệt các căn cứ của Trung Quốc trải dài từ quần đảo Hoàng Sa ở tây bắc tới Đá Vành Khăn ở đông nam, từ bãi cạn Scarborough ở đông bắc đến Đá Chữ Thập ở tây nam sẽ chẳng có gì là quá khó tưởng tượng.
Liệu quá trình lấn dần này có phải là không thể ngăn chặn? Mặc dù Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và các nước ASEAN ký năm 2002 không tạo nhiều cơ sở để phong tỏa các điểm xây dựng lại, nhưng các nước muốn duy trì nguyên trạng vẫn có thể gửi các quan sát viên quốc tế tới để giám sát xây dựng và gây sức ép ngoại giao nhằm thuyết phục Trung Quốc dừng hành động.
Một cách nữa để thách thức chiến lược cờ vây của Trung Quốc là dùng chính chiến thuật mà nước này sử dụng. Ví dụ, bước đầu tiên, Việt Nam có thể cho phép Ấn Độ sử dụng căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh và cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân ở Đà Nẵng. Đây là hai địa điểm chiến lược nhất của Việt Nam dọc bờ biển Đông. Nếu Trung Quốc không để ý tới thông điệp này, Việt Nam có thể tăng cường động thái ngăn chặn bằng cách cho phép quân đội Mỹ và Nhật Bản vào Cam Ranh và Đà Nẵng, từ đó hai nước có thể tuần tra biển Đông. Trên hết, nếu Trung Quốc vẫn quyết tâm biến biển Đông thành ao nhà của mình thì các nước Việt Nam, Philippines, Mỹ, Nhật và Ấn Độ cần hình thành một liên minh mạnh mẽ hòng đảo ngược lại trạng thái mất cân bằng quyền lực ấy.
Đại chiến lược của Trung Quốc ở biển Đông là một kế hoạch khôn khéo tận dụng những điểm yếu của các chiến lược dựa trên các trận đánh lớn mà điển hình là Chiến lược tác chiến không-hải mà Mỹ đưa ra nhằm vô hiệu hóa năng lực Chống tiếp cận – phong tỏa khu vực (A2AD) của Trung Quốc và Chiến lược kiểm soát tầm xa (Offshore Control), lựa chọn thay thế chủ chốt của chiến lược A2AD. Nhưng chiến lược lấn dần này không phải là hoàn hảo. Nó có thể bị ngăn chặn nếu Mỹ, Việt Nam và các cường quốc khu vực khác chơi cờ vây điêu luyện như Trung Quốc.
Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm) là phó giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu. Quan điểm trong bài viết này là của cá nhân tác giả, không phản ánh quan điểm nơi tác giả công tác.
——————-
[1] Trong cuộc đối đầu tại bãi cạn Scarborough, sau khi Mỹ đứng ra làm trung gian hòa giải, Philippines nghĩ rằng Trung Quốc đã đồng ý cả hai bên rút tàu về nhưng sau khi Philippines rút về thi Trung Quốc vẫn không hề rút và rốt cuộc đã chiếm Scarborough trên thực tế (ghi chú của người biên tập dựa trên trao đổi với tác giả bài viết).
Theo Nghiên Cứu Quốc Tế

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh

BizLIVE - Chiều hướng cứng rắn của Mỹ đối với các hành vi quyết đoán của Bắc Kinh tại các vùng biển châu Á-Thái Bình Dương càng lúc càng rõ nét.

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh
Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ yêu cầu Lầu năm góc xét lại chính sách "giao lưu" với quân đội Trung Quốc (Wikimedia).
Chiều hướng cứng rắn của Mỹ đối với các hành vi quyết đoán của Bắc Kinh tại các vùng biển châu Á-Thái Bình Dương càng lúc càng rõ nét, RFI cho hay.

Dấu hiệu mới nhất là yêu cầu hôm 10/12/2014 của một dân biểu đầy thế lực, đòi Lầu Năm Góc xét lại chính sách đối thoại quân sự với Trung Quốc.

Theo dân biểu này, lý do là vì chính sách của Washington mang lại cho Bắc Kinh quá nhiều lợi ích, nhưng không thuyết phục được quân đội Trung Quốc chấm dứt các hành động hiếu chiến ở châu Á-Thái Bình Dương.

Trong một bức thư dài ba trang gởi đến Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel và Thứ trưởng Quốc phòng Robert Work, Dân biểu Đảng Cộng hòa Randy Forbes, Chủ tịch Tiểu ban Hải lực thuộc Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ đã yêu cầu "xem xét lại chính sách 'giao lưu' hiện hành với quân đội Trung Quốc… trong khuôn khổ một chủ trương rộng lớn hơn (của Lầu Năm Góc) nhằm rà soát lại các mục tiêu an ninh của Mỹ trong khu vực".

Đối với ông Randy Forbes, chủ trương giao lưu để khuyến khích quân đội Trung Quốc hòa hoãn hơn đã mang lại kết quả ngược lại với mong đợi của Mỹ.

"Vào lúc chúng ta tăng cường việc phát triển quan hệ giữa hai quân đội trong hai năm qua, các hành động của quân đội Trung Quốc lại chỉ trở nên hung hãn hơn. (…) Các sự cố liều lĩnh trên biển và trên không đã liên tục xẩy ra và Trung Quốc đã sử dụng nhiều hình thức cưỡng bức mới nhắm vào các láng giềng của họ ở Biển Hoa Đông và Biển Đông", ông viết.

Trang mạng tờ báo Mỹ Washington Free Beacon vào hôm 12/12 đã nêu bật nhiều sự cố đã khiến cho vị chủ tịch Tiểu ban Hải lực của Hạ viện Mỹ phải lên tiếng. Tờ báo đã nhắc lại các hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, xây dựng cơ sở trên các đảo đá đang tranh chấp, cho máy bay và tàu quân sự cản mũi phi cơ hay chiến hạm Mỹ trong vùng, những hành vi đã từng bị Lầu Năm Góc mô tả là "nguy hiểm" và "khiêu khích".

Một cách kín đáo hơn, Bắc Kinh cũng lợi dụng giao lưu quân sự để "học lỏm" công nghệ hay kỹ thuật của Mỹ. Tờ Washington Free Beacon đã nêu lên vụ Tướng Trung Quốc Phòng Phong Huy (Fang Fenghui) được mời lên tham quan tàu sân bay USS Ronald Reagan ở San Diego vào tháng năm vừa qua. Ít lâu sau, một đô đốc hải quân Trung Quốc đã về hưu đã xác nhận với thông tấn nhà nước Trung Quốc là Tướng Phòng Phong Huy đã thu thập được các thông tin có giá trị về năng lực của chiếc USS Reagan.

Ngoài ra, vào tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã cho chiến đấu cơ tàng hình đời mới nhất của họ bay thử. Chiếc J-31 của Trung Quốc tuy nhiên đã được cho là sử dụng công nghệ của loại phi cơ Mỹ F-35 mà Quân đội Trung Quốc bị tình nghi là đã đánh cắp được thông qua các cuộc tấn công tin học nhắm vào một nhà thầu phụ của tập đoàn chế tạo máy bay Lockheed Martin của Mỹ.

Theo giới quan sát, thái độ nghi ngại Trung Quốc của Dân Biểu Mỹ Randy Forbes không phải là cá biệt, mà phản ánh một phản ứng chung của dư luận Mỹ trước những hành vi thái quá của Trung Quốc, không chỉ đối với Hoa Kỳ, mà cả đối với các láng giềng của Trung Quốc.

Mới đây, trong một động thái hiếm hoi, Hạ viện Mỹ ngày 3/12 vừa qua, đã thông qua Nghị quyết H. Res-714 lên án các hành vi cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực để ngăn cản việc thực thi quyền tự do sử dụng vùng biển hay không phận quốc tế trên các vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông, mà tác giả là Trung Quốc.
TRỌNG NGHĨA

Thêm bài học cảnh giác trước Trung Quốc

Thêm bài học cảnh giác trước Trung Quốc

Xin giới thiệu bài viết “Tadjikistan dưới cái bóng của Trung Quốc” đăng trên “Russkaia Planeta” ngày 08/12/2014 để cùng suy ngẫm. 

Nước cộng hòa Trung Á thân Nga nhất đã biến thành nước bị Trung Quốc chi phối kinh tế như thế nào?
Sau khi Liên Xô tan rã, trong nhiều năm liền Tadjikstan (còn có các cách gọi khác là Tajikistan, Tadzhikistan) được coi là nước cộng hòa Trung Á thân Nga nhất. Nhưng đến cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XXI những thực tiễn kinh tế mới đã biến nước này thành một khu vực ngoại vi của Trung Quốc và là cái máy bơm tiền từ Nga sang Trung Quốc.
Trung Quốc quay trở lại Trung Á
Bản đồ Tadjikistan (Wikipedia)
Bản đồ Tadjikistan (Wikipedia)
Cuối thế kỷ thứ XIX, dãy Pamir là khu vực xung đột lợi ích của bốn quốc gia – ba đế quốc và một vương quốc (Nga, Anh, Trung Quốc và Afganistan). Sau một quá trình lịch sử, nước Tajikistan với đường biên giới như hiện nay được thành lập.
Vào cuối thế kỷ XVIII, Nhà Thanh ở Trung Quốc đang ở giai đoạn cực thịnh và có yêu sách lãnh thổ đối với toàn bộ lãnh thổ vùng Trung Á. Nhưng sau đó, gần như đến tận cuối thế kỷ XX, Trung Quốc luôn ở trong tình trạng khủng hoảng kéo dài. Nước này không có một ảnh hưởng đáng kể nào đến các nước Cộng hòa Trung Á cho đến khi Liên Xô tan rã. Tadjikistan cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Quan chức cao cấp nhất của một nước Trung Hoa mới xuất hiện lần đầu tiên trên lãnh thổ Tadjikistan (lúc đó còn là Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết Tadjikistan ) là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô Iui Hunlian. Ông này đã có chuyến thăm làm quen tại Dushanbe (Thủ đô Tadjikistan) vào ngày 18/6/1991. Vào thời gian đó, tờ báo quan trọng nhất của Nước Cộng hòa này là “ Communist Tadjikistan” (Người Đảng viên cộng sản Tadjikistan) đã rất hồ hởi đưa tin về chuyến thăm này.
Chỉ sau đó mấy tháng, cuối tháng 12/1991 thì Liên Xô đã biến mất trên bản đồ thế giới. Ngay ngày 04/01/1992, Trung Quốc là một trong những nước đầu tiên công nhận độc lập của Tadjikistan và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước này. Đại sứ quán Trung Quốc mở cửa tại Dushanbe ngày 13/3 ngay trong năm đó.
Vào thời gian đó, Tadjikistan không quan tâm lắm đến các quan hệ quốc tế bởi vì đang có nội chiến – theo các số liệu khiêm tốn nhất thì đã có hàng chục nghìn người thiệt mạng. Đại sứ quán Tadjikistan chỉ mở cửa trở lại tại Bắc Kinh 5 năm sau đó – vào ngày 7/4/1997.
Cựu chủ tịch Nông trang mang tên Lê Nin Emomali Rakhmonov (chính là E.Rakhmon hiện nay như đã nói ở trên),- một trong những người chiến thắng trong cuộc nội chiến trở thành người đứng đầu nhà nước chính thức vào cuối năm 1992.
Trong 10 năm sau đó, tuy tổng thống Rakhmonov tìm mọi cách để thể hiện định hướng thân Nga của mình, nhưng chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của ông ta với tư cách là người đứng đầu quốc gia lại là chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 3/1993 (mãi đến tháng 8 năm đó, Rakhmonov mới có cuộc gặp đầu tiên với tổng thống Nga B.Elsin).
Tại Bắc Kinh , người đứng đầu Tadjikistan được những quan chức cao cấp nhất của nhà nước và Đảng CS Trung Quốc đón tiếp. Cũng chính trong chuyến thăm này, Rakhmonov đã ký vào một tuyên bố chung theo “ đề nghị” của giới lãnh đạo Trung Quốc, trong đó có điều khoản là Tadjikistan và Trung Quốc sẽ: “tiếp tục thảo luận các vấn đề biên giới còn tồn tại”.
Đằng sau những vỏ bọc từ ngữ theo khuôn mẫu ngoại giao này là một thực tế - những yêu sách lãnh thổ cũ của Trung Quốc đối với Liên Xô (cũ) vẫn không hề thay đổi.
Những con đường núi tại Tajikistan, 1982.Ảnh: Ratushenko,1982/RIA Novosti
Những con đường núi tại Tajikistan, 1982.Ảnh: Ratushenko,1982/RIA Novosti
Trung Quốc, như đã biết, hành động không hấp tấp – nước này thiết lập mối quan hệ với Tadjikistan một cách thận trọng, từng bước một nhưng rất chắc và kiên trì . Để khởi đầu , Bắc Kinh cần một tuyến giao thông vững chắc nối Trung Quốc với Tadjikistan. Biên giới giữa hai nước đi qua những khu vực núi cao của dãy Pamir, nơi mà trước đây chỉ có những nhóm người chăn thả súc vật sinh sống.
Tháng 12/1996, hai nước ký một thỏa thuận về việc mở một cửa khẩu thương mại tạm thời “Kulma” trên biên giới Tadjikistan và Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc bắt đầu triển khai xây dựng một tuyến đường lớn trên lãnh thổ của mình để có thể triển khai tiếp một tuyến đường ô tô hiện đại trên núi cao đến biên giới với Tadjikistan. Để xây dựng tuyến đường xuyên núi này, Trung Quốc mất gần 8 năm.
Về quan hệ kinh tế: Trong suốt những năm 90, Trung Quốc chỉ cung cấp khoản tín dụng trị giá 10 triệu đô la Mỹ và một lô hàng cứu trợ nhân đạo trị giá 200.000 đôla- một con số trên là quá ít ỏi, gần như chỉ mang tính chất tượng trưng đối với các mối quan hệ quốc tế. Không chỉ thế, các khoản tín dụng của Trung Quốc được cấp với điều kiện bắt buộc là Tadjikistan phải mua hàng của nước này .
Sự tham gia trực tiếp của Trung Quốc vào kinh tế Tajikistan trong những năm 90 cũng rất hạn chế và chỉ dừng lại ở việc thành lập một số xí nghiệp liên doanh chế biến bông và cải tạo nhà máy thuốc lá ở Dushanbe.
Còn Dushanbe trong những năm đó, mặc dù thề sống thề chết về tình hữu nghị của mình với nước Nga, nhưng trên thực tế đã coi Trung Quốc là đối tác nước ngoài quan trọng nhất. Đại sứ đầu tiên của Tadjikistan tại Trung Quốc là cựu Bí thư Thành ủy Dushanbe cuối cùng D.Karimov – ông này trong thời kỳ nội chiến là Thủ tướng chính phủ Tadjikistan.
Đến năm 2000, Tổng thống Tadjikistan đã có 12 cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân- nhiều hơn nhiều so với các cuộc gặp với những nhà lãnh đạo các nước khác, kể cả Nga. Kết quả của các cuộc gặp đó là hàng chục thỏa thuận Tadjikistan- Trung Quốc về tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, kể cả các thỏa thuận về “ điều chỉnh đường biên giới” Tadjikistan lúc nào cũng có lợi cho phía Trung Quốc.
Năm 1999, lần đầu tiên Dushanbe chấp nhận cắt 200 km2 đất tại thung lũng sông Markans ở khu vực ngã ba biên giới Trung Quốc- Tajikistan và Kirgistan cho Thiên triều. Đúng một năm sau đó, khi việc bàn giao phần lãnh thổ nói trên đã hoàn tất, Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm Dushanbe – đây là chuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu Trung Quốc đến Tadjikistan.
Trong thông điệp chính thức gửi Rakhmonov trước chuyến thăm, nhà lãnh đạo Trung Quốc khuyên: “ tập trung mọi nỗ lực chung để đưa quan hệ giữa hai nước chúng ta lên một tầm cao mới về chất trong thế kỷ mới…”
Người Tajikistan mặc quần áo Trung Quốc
Tháng 5/2002, tổng thống Rakhmonov lại đến Bắc Kinh để kỷ niệm trọng thể 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Tadjikistan và Trung Quốc. Để “lập thành tích” chào mừng ngày lễ trọng, hai bên đã ký thêm một hiệp định: “Về phân định biên giới và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ”, - theo hiệp định này Tadjikistan đồng ý “bàn giao” thêm cho Trung Quốc 1.000 km2 nữa trên dãy Pamir.
Mùa thu hoạch bông ở Tajikistan. 1985.Ảnh :Ratushenko/RIA Novosti
Mùa thu hoạch bông ở Tajikistan. 1985.Ảnh :Ratushenko/RIA Novosti
So với Trung Quốc thì Tadjikistan là một nước nhỏ- dân số chỉ bằng 1/200 của Trung Quốc (con số của tác giả - theo số liệu của Ngân hàng thế giới năm 2013 thì dân số nước này là 8.208.000 -ND).
Chính vì vậy mà quy mô trợ giúp kinh tế của Trung Quốc cho Tadjikistan cũng chỉ ở mức rất khiêm tốn. Đê trả công cho lần nhượng bộ lãnh thổ đầu tiên, Giang Trạch Dân trong năm 2000 đã quyết định dành cho Tadjikistan một khoản viện trợ khoảng hơn 3 triệu đôla một chút.
Năm 2004, Bộ quốc phòng hai nước ký một thỏa thuận về việc Trung Quốc dành cho Tajikistan một khoản viện trợ quân sự không hoàn lại trị giá 8 triệu nhân dân tệ (khoảng hơn 1 triệu đô la). Để so sánh, xin dẫn số liệu sau đây – vào năm đó 01 chiếc tăng T-90 có giá cũng khoảng 1 triệu đôla.
Hợp tác trong lĩnh vực quân sự giữa Tajikistan và Trung Quốc tuy không khoa trương nhưng phát triển nhanh. Lãnh đạo hai nước có những mối quan tâm giống nhau trong đấu tranh chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan.
Ngay từ năm 1994, Trung Quốc đã huấn luyện một số nhóm nhỏ sỹ quan Tadjikistan về các hoạt động chống du kích. Còn từ đầu thế kỷ XXI , hai bên thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận chung tại khu vực các núi gần Afganistan. Các cuộc tập trận như vậy thường được tiến hành dưới danh nghĩa là “các cuộc tập trận chống ma túy”.
Ngoài việc “nắn chỉnh” lại đường biên giới có lợi cho Trung Quốc, Bắc Kinh và Dushanbe vào năm 2002 đã nhất trí đẩy nhanh tốc độ xây dựng đường ô tô qua đèo Kulma để kết nối Trung Quốc với Tadjikistan.
Trong suốt những năm 90 Tadjikistan hầu như không mua gì của Trung Quốc. Có 3 lý do: Thứ nhất, tại nước cộng hòa nghèo và đang lún sâu vào nội chiến này dân chúng không có tiền.
Thứ hai, mặc dù đã được phép buôn bán qua biên giới nhưng không có các tuyến đường hiện đại nối hai nước. Thứ ba, nền kinh tế của chính Trung Quốc và khu vực tiếp giáp với Tadjikistan là Khu tự trị Tân Cương- Duy Ngô Nhĩ kinh tể cũng chỉ mới bắt đầu phát triển.
Trong những năm đó, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Tadjikistan vào Trung Quốc là những nguyên liệu chiến lược – bông và nhôm, - nhôm được sản xuất tại nhà máy có từ thời Xô Viết ở Tursunhad. Cán cân thương mại nghiêng về phíaTadjikistan.
Sang đầu thế kỷ XXI, tình hình đã thay đổi một cách căn bản. Theo các số liệu thống kê thì trong giai đoạn 1999-2004, kim ngạch xuất khẩu từ Tadjikistan vào Trung Quốc tăng gấp hai lần, còn nhập khẩu từ Trung Quốc tăng tới 22 lần.
Theo số liệu của Cơ quan hải quan Tadjikistan thì trong năm 2004, Tadjikistan đã nhập khẩu từ Trung Quốc hơn 1,5 triệu đô la cho chỉ riêng cho mặt hàng vải. Đến hết năm 2004, nhập siêu của Tadjikistan từ Trung Quốc là hơn 50 triệu đôla- đây là một con số rất ấn tượng đối với một nền kinh tế nhỏ như Tadjikistan.
Sự bành trướng kinh tế ồ ạt của Trung Quốc vào Tadjikistan bắt đầu chính từ năm 2004, khi người Trung Quốc hoàn thành việc xây dựng con đường ở khu vực đèo Kulma. Tuyến đường ô tô hiện đại, có nơi chạy trên độ cao 4.000 m so với mực nước biển, đã làm đơn giản hóa đáng kể các mối quan hệ kinh tế- chi phí vận tải giữa hai nước giảm gần 3 lần.
Tadjikistan là nước vẫn duy trì được mô hình “Tadjikpotrbsoiuz” (Liên minh các hợp tác xã tiêu thụ- kiểu như liên minh các hợp tác xã mua bán của Việt Nam thời bao cấp –ND) từ thời Xô Viết, họat động theo phương thức là một xí nghiệp thương mại thống nhất quản lý hàng nghìn cửa hàng và các chợ trong toàn quốc.
Năm 2005, ngay sau khi thông xe tuyến đường ô tô nối với Trung Quốc, “Tadjikpotrbsoiuz” đã ký với Trung Quốc một hợp đồng có giá trị kỷ lục đối với Tadjikistan – hơn 1 tỷ đô la
Theo hợp đồng này, “Tadjikpotrbsoiuz” cam kết trong vòng 10 năm phải mua của các xí nghiệp tại Tân Cương quần áo, hàng tiêu dùng, sản phẩm nông nghiệp, vật liệu xây dựng, máy móc và các mặt hàng khác. Để đổi lại, phía Trung Quốc cam kết xây dựng tại Tadjikistan các xí nghiệp chế biến và cơ sở hạ tầng mới cho các cửa hàng và các chợ.
Việc mở ra tuyến giao thông thuận lợi và tương đối rẻ tiền giữa Trung Quốc và Tajikistan đã làm bùng nổ hiện tượng “buôn bán con thoi” (kiểu như các cửu vạn vận chuyển hàng qua biên giới như ở ta).
Số lượng người làm việc trong “ ngành” này – tức là kiếm tiền bằng việc “đánh” hàng nhập từ Trung Quốc – theo đáng giá sơ bộ là vào khoảng 70.000 người, tức gần 1 % dân số Tadjikistan.
Nhà máy sản xuất nhôm ở Tajikistan,1996. Ảnh: Ratushenko /RIA Novosti
Nhà máy sản xuất nhôm ở Tajikistan,1996. Ảnh: Ratushenko /RIA Novosti
Ngay trong năm 2008, theo số liệu thống kê của chính Tadjikistan thì có tới 96% quần áo và đồ điện sinh hoạt bán trên lãnh thổ Tadjikistan có nhãn hiệu “Made in China”. Từ năm 2002 đến 2009, kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng 100 lần, chủ yếu từ việc nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc.
Thậm chí đến cả bột mì, trước đây chủ yếu nhập từ Nga và Kazakhstan, cũng không chịu nổi sự cạnh tranh và phải nhường thị phần cho bột mì Trung Quốc tại nhiều khu vực ở phía đông Tadjikistan.
Đầu tư đổi lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đến năm 2005, Nga đã tái cơ cấu lại nợ - trên thực tế là xóa cho Tadjikistan một khoản nợ đáng kể để đổi lấy việc bố trí căn cứ quân sự số 201 và tổ hợp giám sát vũ trụ “Nurek”. Đồng thời Quỹ tiền tệ quốc tế cũng xóa cho nước này phần lớn khoản nợ vay từ những năm 90.
Tadjikistan, tuy đã trút được phần lớn gánh nặng nợ nước ngoài nhưng vẫn là một nước nghèo và buộc phải tìm nguồn tín dụng mới – Cả Nga lẫn các cơ cấu tài chính quốc tế đều chưa vội vàng cho Tadjikistan vay tiếp các khoản mới.
Vào thời điểm đó, Trung Quốc không những đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng giao thông cần thiết kết nối nước này với Tadjikistan, mà còn có đủ thời gian và cơ sở để khẳng định là chế độ của Tổng thống Rakhmanov sẽ đứng vững và sẽ tồn tại lâu dài.
Nếu như trước kia Trung Quốc rất thận trọng và chỉ hạn chế ở các khoản cho vay tín dụng không lớn, thì sau năm 2005 Bắc Kinh đã trở thành nguồn cung cấp khoản cho vay chủ yếu cho Dushanbe.
Ngay từ năm 2006, Trung Quốc cấp cho nước láng giềng Tadjikistan 3 khoản tín dụng lớn đầu tiên với tổng giá trị hơn 600 triệu đô la. Đến năm 2012, nợ Trung Quốc đã chiếm 41 % tổng số nợ nước ngoài của Tadjikistan.
Nhìn bên ngoài, Trung Quốc cung cấp tín dụng cho Tadjikistan mà không kèm theo bất cứ điều kiện chính trị nào. Giới lãnh đạo Tadjikistan chính vì thế mà rất hồ hởi nhận các khoản vay từ Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh mà nếu vay từ IMF – thường là bao giờ cũng đi kèm với các điều kiện ngặt nghèo lẫn các tuyên bố (không khác gì chỉ trích) kiểu “ nước này cần phải làm sâu sắc thêm tiến trình dân chủ”.
Nhưng trên thực tế, các khoản tín dụng của Trung Quốc chủ yếu chỉ dành cho các dự án phục vụ các lợi ích chiến lược của Trung Quốc.
Những dẫn chứng được dẫn ra ngay sau đây: phần lớn các khoản tiền cho vay được dùng để xây dựng và cải tạo các tuyến đường bộ và các tuyến giao thông khác nối các thành phố và khu vực chủ yếu của Tadjikistan với tuyến đường ô tô về Trung Quốc như đã nói ở trên.
Những tuyến đường, đường ngầm và tuyến dây tải điện đã trói chặt nền kinh tế Tadjikistan với nền kinh tế Trung Quốc. Không những thế, một trong điều kiện chủ yếu để cho vay là việc xây dựng phải do chính các công ty ( nhà thầu) Trung Quốc đảm nhiệm.
Sự gia tăng mức độ phụ thuộc về kinh tế, tài chính vào Trung Quốc tất yếu sẽ dẫn đến việc điều chỉnh lại đường biên giới của Tadjikistan. Tháng 1/2011, Quốc hội Tadjikistan đã biểu quyết thông qua nghị quyết “cắt” cho Trung Quốc hơn 1.000 km2 ở khu vực dãy núi Sarykolsk ở phía Đông Pamir. Ngay trong tháng 11 năm đó, khu vực lãnh thổ nói trên đã thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.
Tháng 5/2013, trên các phương tiện đại chúng xuất hiện các thông tin mâu thuẫn nhau về việc Trung Quốc đã đơn phương đưa quân chiếm một số khu vực đang tranh chấp ở trên dãy Pamir.
Cũng xuất hiện các tin đồn là Tadjikistan đã điều tới đây các đơn vị quân đội và các phương tiện quân sự dưới danh nghĩa tổ chức tập trận. Tuy nhiên, cả hai nước đã công khai bác bỏ các thông tin nói trên. Ai trên thực tế kiểm soát các khu vực núi cao khó tiếp cận nói trên- đây vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ cho đến tận bây giờ.
Chỉ biết rằng sự phụ thuộc này càng lớn về kinh tế của Tadjikistan vào Trung Quốc đã không cho phép Dushanbe công khai lên tiếng phản đối Bắc Kinh, thậm chí cả trong trường hợp xuất hiện những phức tạp thực sự trong quan hệ giữa hai quốc gia.
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Tadjikistan cho đến nay vẫn rất nhỏ giọt, thấp hơn các khoản mà Trung Quốc cho vay đến hàng chục lần. Các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng từ Trung Quốc thường cố tránh đầu tư vào các xí nghiệp sản xuất và chế biến của Tajikistan, nếu như chúng có tiềm năng cạnh tranh với công nghiệp Trung Quốc.
Nhìn tổng thể, các nhà đầu tư Trung Quốc chỉ quan râm đến lĩnh vực khai khoáng của Tajikistan. Xí nghiệp khai thác vàng duy nhất của nước cộng hòa này “ Tadjikistanski zolotorudnyi combinat” (Liên hợp khai thác vàng Tadjikistan) đã bị công ty khai thác vàng lớn nhất Trung Quốc là Zijin Mining Group Ltd mua lại vào năm 2007.
Mỏ chì và kẽm lớn nhất tại Trung Á là mỏ Altyn-Topkan của Tadjikistan trên khu vực biên giới với Uzbekistan – cũng đã thuộc về Công ty khai thác mỏ Trung Quốc.
Trong căn cứ quân sự số 201 trên lãnh thổ Tadjikistan,2008.Ảnh:X.Gunheev/RIA Novosti
Trong căn cứ quân sự số 201 trên lãnh thổ Tadjikistan,2008.Ảnh:X.Gunheev/RIA Novosti
Trong những năm gần đây, quan hệ kinh tế Tadjikistan với Trung Quốc được thực hiện đúng theo mô hình đã được chính đại sứ Tadjikistan tại Trung Quốc Rashid Alimov công khai thừa nhận: “đầu tư đối lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
Một ví dụ điển hình của mô hình này là việc Tập đoàn “Tebian Electric Apparatus ” của Trung Quốc xây dựng nhà máy điện ở Dushanbe để đổi lấy quyền khai thác khoáng sản tại khu vực Ainhin thuộc Tỉnh Sogdi ở phía bắc Tadjikistan. Trung Quốc khai thác ở khu vực này than đá, antimon và các kim loại quý khác.
Khu vực này là nơi tập trung tới 10% trữ lượng antimon trên thế giới – một loại nguyên liệu không thể thiếu đối ngành công nghiệp kỹ thuật điện hiện đại. Tập đoàn “Tebian Electric Apparatus” cũng chính là một trong những tập đoàn sản xuất các mặt hàng điện tử lớn nhất Trung Quốc.
Máy bơm tiền từ Nga vào Trung Quốc
Để đổi lấy các mặt hàng công nghiệp từ Trung Quốc tất cả các chủng loại, Tadjikistan chỉ thể cung cấp chủ yếu là nhôm, bông và các khoáng sản khác. Trong khi đó thì Trung Quốc từ lâu đã giữ vai trò quyết định trong cả công nghiệp chế biến bông vải cũng như công nghiệp khai thác khoáng sản của Tadjikisan.
Không dừng lại ở đó, Trung Quốc không ngừng “lấn sân” trong cả những lĩnh vực vốn vẫn do Nga kiểm soát. Như năm 2008, Trung Quốc “nẫng tay trên ” của “Rusal” các hợp đồng xây dựng ở Tadjikistan 2 nhà máy sản xuất nhôm frolua và criolit- những sản phẩm thiết yếu đối công nghiệp sản xuất nhôm.
Với 2 hợp đồng này, Trung Quốc có thể gián tiếp tác động đến hoạt động của nhà máy nhôm Tadjikistan- nhà máy xuất khẩu chủ yếu của nước này và là nhà sản xuất nhôm lớn ở Châu Á.
Trong năm 2013, xuất khẩu của Tadjikistan vào Trung Quốc chỉ có trị giá 90 triệu đô la, trong khi nhập khẩu 400 triệu đôla . Để bù đắp thâm hụt thương mại thì Tadjikistan, nói chính xác hơn là người dân Tadjikistan buộc phải tìm kiếm các nguồn thu nhập từ nước ngoài.
Chính Trung Quốc, nói một cách nhẹ nhàng là không quá thiếu hụt lao động. Những nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ quanh Tadjikistan, vì nhiều lý do cũng không thể cung cấp việc làm lẫn thu nhập cho người Tadjikistan. Trong những điều kiện như vậy, nguồn thu đến từ nước Nga.
Ngay từ đầu thế kỷ XXI, số lượng công dân Tadjikistan, làm việc hợp pháp và bất hợp pháp tại Nga là vào khoảng từ 450.000 đến 650.000 người.
Từ đó đến nay, theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới thì Tadjikistan là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ kiều hối do người lao động từ nước ngoài chuyển về trong trong GDP. Trong các năm 2008-2010, thu nhập của các “cửu vạn” Tadjikistan gửi về chiếm khoảng 35 đến 49% GDP của Tadjikistan.
Ít nhất 2/3 số tiền người Tadjikistan làm việc ở nước ngoài chuyển nước về là từ những người lao động ở Nga. Tại Nga, số lượng người lao động Tadjikistan chỉ ít hơn người Uzbekistan- công dân của nước Cộng hòa Trung Á đông dân nhất thuộc Liên Xô cũ (30,24 triệu người –số liệu năm 2013 của Ngân hàng thế giới-ND).
Theo số liệu của Ngân hàng trung ương Nga, tổng số tiền chuyển từ Nga về Tadjikistan trong năm 2013 là hơn 4 tỷ đô la (số tiền chuyển ngược lại từ Tad jikistan vào Nga vào khoảng nửa tỷ đô la).
Con số thống kê nói trên cho thấy một điều là nguồn bù đắp khoảng thâm hụt hơn 300 triệu đôla trong thương mại của Tadjikistan với Trung Quốc lại chính là từ nước Nga.
Nhưng người lao động Tadjikistan kiếm tiền tại Nga (đóng góp tới 1/3 GDP của nước này) và số tiền kiếm được đó lại chi tiêu ở Tadjikistan, nơi mà 90% các loại hàng công nghiệp và các mặt hàng thiết yếu đều có nguồn gốc Trung Quốc.
Cái “máy bơm này” đã hoạt động thành công tại Nga gần hai thập kỷ ,- vừa đảm bảo lợi nhuận cho các chủ lao động ở Nga vì sử dụng nguồn nhân công giá rẻ, vừa đảm bảo cho những người lao động Tadjikistan một mức sống có thể chấp nhận được bằng cách dùng khoản thu nhập đó từ Nga mua các mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc, nhưng mặt khác cái “máy bơm”đó đã cung cấp cho ngành công nghiệp đang phát triển của Trung Quốc một nguồn thu nhập bổ sung đáng kể để lại đầu tư ra nước ngoài.
Những gì đang diễn ra hiện nay cho thấy trong tương lai ngắn hạn, mô hình kinh tế trên sẽ không có gì thay đổi .
  • Lê Hùng

Loạt tàu chiến TQ ‘vờn' đảo Nhật

Thế giới 24h: Loạt tàu chiến TQ ‘vờn' đảo Nhật



Ngày 13/12, văn phòng Hội đồng Tham mưu liên quân thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết một ngày trước đó, một loạt tàu chiến của Trung Quốc đã đi xuyên vùng biển nhưng không đi vào lãnh hải của Nhật.
thế giới 24h
Theo hãng tin Kyodo, 6 tàu khu trục tên lửa của Trung Quốc đã đi từ Thái Bình Dương qua vùng biển giữa đảo chính của Okinawa và quần đảo Miyako tại phía Tây Nam Nhật Bản để tiến vào Biển Hoa Đông.
Các tàu trên được cho là đang tham gia tập trận hải quân của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Các tàu chiến này bao gồm: tàu Trịnh Châu (Zhengzhou) 151, Thái Châu (Taizhou) 138, Chu San (Zhoushan) 529, Ích Dương (Yiyang) 548, Thiên Đảo Hồ (Qiandao Hu) 886 và Bắc Cực Tinh (Beijixing) 851.
Sáu tàu này diễn tập đổ bộ và cất cánh cho trực thăng cũng như tiếp tế ngoài khơi tại phía Tây Thái Bình Dương.
Trước đó vài ngày, lực lượng chức năng cũng phát hiện máy bay quân sự Trung Quốc bay trên vùng biển gần Nhật Bản.
Kể từ sau khi Nhật quyết định quốc hữu hóa các đảo đá thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc thường xuyên cử tàu hiện diện tại vùng biển Hoa Đông.