Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh

BizLIVE - Chiều hướng cứng rắn của Mỹ đối với các hành vi quyết đoán của Bắc Kinh tại các vùng biển châu Á-Thái Bình Dương càng lúc càng rõ nét.

Hạ viện Mỹ đòi Washington xét lại quan hệ quân sự với Bắc Kinh
Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ yêu cầu Lầu năm góc xét lại chính sách "giao lưu" với quân đội Trung Quốc (Wikimedia).
Chiều hướng cứng rắn của Mỹ đối với các hành vi quyết đoán của Bắc Kinh tại các vùng biển châu Á-Thái Bình Dương càng lúc càng rõ nét, RFI cho hay.

Dấu hiệu mới nhất là yêu cầu hôm 10/12/2014 của một dân biểu đầy thế lực, đòi Lầu Năm Góc xét lại chính sách đối thoại quân sự với Trung Quốc.

Theo dân biểu này, lý do là vì chính sách của Washington mang lại cho Bắc Kinh quá nhiều lợi ích, nhưng không thuyết phục được quân đội Trung Quốc chấm dứt các hành động hiếu chiến ở châu Á-Thái Bình Dương.

Trong một bức thư dài ba trang gởi đến Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel và Thứ trưởng Quốc phòng Robert Work, Dân biểu Đảng Cộng hòa Randy Forbes, Chủ tịch Tiểu ban Hải lực thuộc Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ đã yêu cầu "xem xét lại chính sách 'giao lưu' hiện hành với quân đội Trung Quốc… trong khuôn khổ một chủ trương rộng lớn hơn (của Lầu Năm Góc) nhằm rà soát lại các mục tiêu an ninh của Mỹ trong khu vực".

Đối với ông Randy Forbes, chủ trương giao lưu để khuyến khích quân đội Trung Quốc hòa hoãn hơn đã mang lại kết quả ngược lại với mong đợi của Mỹ.

"Vào lúc chúng ta tăng cường việc phát triển quan hệ giữa hai quân đội trong hai năm qua, các hành động của quân đội Trung Quốc lại chỉ trở nên hung hãn hơn. (…) Các sự cố liều lĩnh trên biển và trên không đã liên tục xẩy ra và Trung Quốc đã sử dụng nhiều hình thức cưỡng bức mới nhắm vào các láng giềng của họ ở Biển Hoa Đông và Biển Đông", ông viết.

Trang mạng tờ báo Mỹ Washington Free Beacon vào hôm 12/12 đã nêu bật nhiều sự cố đã khiến cho vị chủ tịch Tiểu ban Hải lực của Hạ viện Mỹ phải lên tiếng. Tờ báo đã nhắc lại các hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, xây dựng cơ sở trên các đảo đá đang tranh chấp, cho máy bay và tàu quân sự cản mũi phi cơ hay chiến hạm Mỹ trong vùng, những hành vi đã từng bị Lầu Năm Góc mô tả là "nguy hiểm" và "khiêu khích".

Một cách kín đáo hơn, Bắc Kinh cũng lợi dụng giao lưu quân sự để "học lỏm" công nghệ hay kỹ thuật của Mỹ. Tờ Washington Free Beacon đã nêu lên vụ Tướng Trung Quốc Phòng Phong Huy (Fang Fenghui) được mời lên tham quan tàu sân bay USS Ronald Reagan ở San Diego vào tháng năm vừa qua. Ít lâu sau, một đô đốc hải quân Trung Quốc đã về hưu đã xác nhận với thông tấn nhà nước Trung Quốc là Tướng Phòng Phong Huy đã thu thập được các thông tin có giá trị về năng lực của chiếc USS Reagan.

Ngoài ra, vào tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã cho chiến đấu cơ tàng hình đời mới nhất của họ bay thử. Chiếc J-31 của Trung Quốc tuy nhiên đã được cho là sử dụng công nghệ của loại phi cơ Mỹ F-35 mà Quân đội Trung Quốc bị tình nghi là đã đánh cắp được thông qua các cuộc tấn công tin học nhắm vào một nhà thầu phụ của tập đoàn chế tạo máy bay Lockheed Martin của Mỹ.

Theo giới quan sát, thái độ nghi ngại Trung Quốc của Dân Biểu Mỹ Randy Forbes không phải là cá biệt, mà phản ánh một phản ứng chung của dư luận Mỹ trước những hành vi thái quá của Trung Quốc, không chỉ đối với Hoa Kỳ, mà cả đối với các láng giềng của Trung Quốc.

Mới đây, trong một động thái hiếm hoi, Hạ viện Mỹ ngày 3/12 vừa qua, đã thông qua Nghị quyết H. Res-714 lên án các hành vi cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực để ngăn cản việc thực thi quyền tự do sử dụng vùng biển hay không phận quốc tế trên các vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông, mà tác giả là Trung Quốc.
TRỌNG NGHĨA

Thêm bài học cảnh giác trước Trung Quốc

Thêm bài học cảnh giác trước Trung Quốc

Xin giới thiệu bài viết “Tadjikistan dưới cái bóng của Trung Quốc” đăng trên “Russkaia Planeta” ngày 08/12/2014 để cùng suy ngẫm. 

Nước cộng hòa Trung Á thân Nga nhất đã biến thành nước bị Trung Quốc chi phối kinh tế như thế nào?
Sau khi Liên Xô tan rã, trong nhiều năm liền Tadjikstan (còn có các cách gọi khác là Tajikistan, Tadzhikistan) được coi là nước cộng hòa Trung Á thân Nga nhất. Nhưng đến cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XXI những thực tiễn kinh tế mới đã biến nước này thành một khu vực ngoại vi của Trung Quốc và là cái máy bơm tiền từ Nga sang Trung Quốc.
Trung Quốc quay trở lại Trung Á
Bản đồ Tadjikistan (Wikipedia)
Bản đồ Tadjikistan (Wikipedia)
Cuối thế kỷ thứ XIX, dãy Pamir là khu vực xung đột lợi ích của bốn quốc gia – ba đế quốc và một vương quốc (Nga, Anh, Trung Quốc và Afganistan). Sau một quá trình lịch sử, nước Tajikistan với đường biên giới như hiện nay được thành lập.
Vào cuối thế kỷ XVIII, Nhà Thanh ở Trung Quốc đang ở giai đoạn cực thịnh và có yêu sách lãnh thổ đối với toàn bộ lãnh thổ vùng Trung Á. Nhưng sau đó, gần như đến tận cuối thế kỷ XX, Trung Quốc luôn ở trong tình trạng khủng hoảng kéo dài. Nước này không có một ảnh hưởng đáng kể nào đến các nước Cộng hòa Trung Á cho đến khi Liên Xô tan rã. Tadjikistan cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Quan chức cao cấp nhất của một nước Trung Hoa mới xuất hiện lần đầu tiên trên lãnh thổ Tadjikistan (lúc đó còn là Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết Tadjikistan ) là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô Iui Hunlian. Ông này đã có chuyến thăm làm quen tại Dushanbe (Thủ đô Tadjikistan) vào ngày 18/6/1991. Vào thời gian đó, tờ báo quan trọng nhất của Nước Cộng hòa này là “ Communist Tadjikistan” (Người Đảng viên cộng sản Tadjikistan) đã rất hồ hởi đưa tin về chuyến thăm này.
Chỉ sau đó mấy tháng, cuối tháng 12/1991 thì Liên Xô đã biến mất trên bản đồ thế giới. Ngay ngày 04/01/1992, Trung Quốc là một trong những nước đầu tiên công nhận độc lập của Tadjikistan và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước này. Đại sứ quán Trung Quốc mở cửa tại Dushanbe ngày 13/3 ngay trong năm đó.
Vào thời gian đó, Tadjikistan không quan tâm lắm đến các quan hệ quốc tế bởi vì đang có nội chiến – theo các số liệu khiêm tốn nhất thì đã có hàng chục nghìn người thiệt mạng. Đại sứ quán Tadjikistan chỉ mở cửa trở lại tại Bắc Kinh 5 năm sau đó – vào ngày 7/4/1997.
Cựu chủ tịch Nông trang mang tên Lê Nin Emomali Rakhmonov (chính là E.Rakhmon hiện nay như đã nói ở trên),- một trong những người chiến thắng trong cuộc nội chiến trở thành người đứng đầu nhà nước chính thức vào cuối năm 1992.
Trong 10 năm sau đó, tuy tổng thống Rakhmonov tìm mọi cách để thể hiện định hướng thân Nga của mình, nhưng chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của ông ta với tư cách là người đứng đầu quốc gia lại là chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 3/1993 (mãi đến tháng 8 năm đó, Rakhmonov mới có cuộc gặp đầu tiên với tổng thống Nga B.Elsin).
Tại Bắc Kinh , người đứng đầu Tadjikistan được những quan chức cao cấp nhất của nhà nước và Đảng CS Trung Quốc đón tiếp. Cũng chính trong chuyến thăm này, Rakhmonov đã ký vào một tuyên bố chung theo “ đề nghị” của giới lãnh đạo Trung Quốc, trong đó có điều khoản là Tadjikistan và Trung Quốc sẽ: “tiếp tục thảo luận các vấn đề biên giới còn tồn tại”.
Đằng sau những vỏ bọc từ ngữ theo khuôn mẫu ngoại giao này là một thực tế - những yêu sách lãnh thổ cũ của Trung Quốc đối với Liên Xô (cũ) vẫn không hề thay đổi.
Những con đường núi tại Tajikistan, 1982.Ảnh: Ratushenko,1982/RIA Novosti
Những con đường núi tại Tajikistan, 1982.Ảnh: Ratushenko,1982/RIA Novosti
Trung Quốc, như đã biết, hành động không hấp tấp – nước này thiết lập mối quan hệ với Tadjikistan một cách thận trọng, từng bước một nhưng rất chắc và kiên trì . Để khởi đầu , Bắc Kinh cần một tuyến giao thông vững chắc nối Trung Quốc với Tadjikistan. Biên giới giữa hai nước đi qua những khu vực núi cao của dãy Pamir, nơi mà trước đây chỉ có những nhóm người chăn thả súc vật sinh sống.
Tháng 12/1996, hai nước ký một thỏa thuận về việc mở một cửa khẩu thương mại tạm thời “Kulma” trên biên giới Tadjikistan và Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc bắt đầu triển khai xây dựng một tuyến đường lớn trên lãnh thổ của mình để có thể triển khai tiếp một tuyến đường ô tô hiện đại trên núi cao đến biên giới với Tadjikistan. Để xây dựng tuyến đường xuyên núi này, Trung Quốc mất gần 8 năm.
Về quan hệ kinh tế: Trong suốt những năm 90, Trung Quốc chỉ cung cấp khoản tín dụng trị giá 10 triệu đô la Mỹ và một lô hàng cứu trợ nhân đạo trị giá 200.000 đôla- một con số trên là quá ít ỏi, gần như chỉ mang tính chất tượng trưng đối với các mối quan hệ quốc tế. Không chỉ thế, các khoản tín dụng của Trung Quốc được cấp với điều kiện bắt buộc là Tadjikistan phải mua hàng của nước này .
Sự tham gia trực tiếp của Trung Quốc vào kinh tế Tajikistan trong những năm 90 cũng rất hạn chế và chỉ dừng lại ở việc thành lập một số xí nghiệp liên doanh chế biến bông và cải tạo nhà máy thuốc lá ở Dushanbe.
Còn Dushanbe trong những năm đó, mặc dù thề sống thề chết về tình hữu nghị của mình với nước Nga, nhưng trên thực tế đã coi Trung Quốc là đối tác nước ngoài quan trọng nhất. Đại sứ đầu tiên của Tadjikistan tại Trung Quốc là cựu Bí thư Thành ủy Dushanbe cuối cùng D.Karimov – ông này trong thời kỳ nội chiến là Thủ tướng chính phủ Tadjikistan.
Đến năm 2000, Tổng thống Tadjikistan đã có 12 cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân- nhiều hơn nhiều so với các cuộc gặp với những nhà lãnh đạo các nước khác, kể cả Nga. Kết quả của các cuộc gặp đó là hàng chục thỏa thuận Tadjikistan- Trung Quốc về tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, kể cả các thỏa thuận về “ điều chỉnh đường biên giới” Tadjikistan lúc nào cũng có lợi cho phía Trung Quốc.
Năm 1999, lần đầu tiên Dushanbe chấp nhận cắt 200 km2 đất tại thung lũng sông Markans ở khu vực ngã ba biên giới Trung Quốc- Tajikistan và Kirgistan cho Thiên triều. Đúng một năm sau đó, khi việc bàn giao phần lãnh thổ nói trên đã hoàn tất, Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm Dushanbe – đây là chuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu Trung Quốc đến Tadjikistan.
Trong thông điệp chính thức gửi Rakhmonov trước chuyến thăm, nhà lãnh đạo Trung Quốc khuyên: “ tập trung mọi nỗ lực chung để đưa quan hệ giữa hai nước chúng ta lên một tầm cao mới về chất trong thế kỷ mới…”
Người Tajikistan mặc quần áo Trung Quốc
Tháng 5/2002, tổng thống Rakhmonov lại đến Bắc Kinh để kỷ niệm trọng thể 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Tadjikistan và Trung Quốc. Để “lập thành tích” chào mừng ngày lễ trọng, hai bên đã ký thêm một hiệp định: “Về phân định biên giới và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ”, - theo hiệp định này Tadjikistan đồng ý “bàn giao” thêm cho Trung Quốc 1.000 km2 nữa trên dãy Pamir.
Mùa thu hoạch bông ở Tajikistan. 1985.Ảnh :Ratushenko/RIA Novosti
Mùa thu hoạch bông ở Tajikistan. 1985.Ảnh :Ratushenko/RIA Novosti
So với Trung Quốc thì Tadjikistan là một nước nhỏ- dân số chỉ bằng 1/200 của Trung Quốc (con số của tác giả - theo số liệu của Ngân hàng thế giới năm 2013 thì dân số nước này là 8.208.000 -ND).
Chính vì vậy mà quy mô trợ giúp kinh tế của Trung Quốc cho Tadjikistan cũng chỉ ở mức rất khiêm tốn. Đê trả công cho lần nhượng bộ lãnh thổ đầu tiên, Giang Trạch Dân trong năm 2000 đã quyết định dành cho Tadjikistan một khoản viện trợ khoảng hơn 3 triệu đôla một chút.
Năm 2004, Bộ quốc phòng hai nước ký một thỏa thuận về việc Trung Quốc dành cho Tajikistan một khoản viện trợ quân sự không hoàn lại trị giá 8 triệu nhân dân tệ (khoảng hơn 1 triệu đô la). Để so sánh, xin dẫn số liệu sau đây – vào năm đó 01 chiếc tăng T-90 có giá cũng khoảng 1 triệu đôla.
Hợp tác trong lĩnh vực quân sự giữa Tajikistan và Trung Quốc tuy không khoa trương nhưng phát triển nhanh. Lãnh đạo hai nước có những mối quan tâm giống nhau trong đấu tranh chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan.
Ngay từ năm 1994, Trung Quốc đã huấn luyện một số nhóm nhỏ sỹ quan Tadjikistan về các hoạt động chống du kích. Còn từ đầu thế kỷ XXI , hai bên thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận chung tại khu vực các núi gần Afganistan. Các cuộc tập trận như vậy thường được tiến hành dưới danh nghĩa là “các cuộc tập trận chống ma túy”.
Ngoài việc “nắn chỉnh” lại đường biên giới có lợi cho Trung Quốc, Bắc Kinh và Dushanbe vào năm 2002 đã nhất trí đẩy nhanh tốc độ xây dựng đường ô tô qua đèo Kulma để kết nối Trung Quốc với Tadjikistan.
Trong suốt những năm 90 Tadjikistan hầu như không mua gì của Trung Quốc. Có 3 lý do: Thứ nhất, tại nước cộng hòa nghèo và đang lún sâu vào nội chiến này dân chúng không có tiền.
Thứ hai, mặc dù đã được phép buôn bán qua biên giới nhưng không có các tuyến đường hiện đại nối hai nước. Thứ ba, nền kinh tế của chính Trung Quốc và khu vực tiếp giáp với Tadjikistan là Khu tự trị Tân Cương- Duy Ngô Nhĩ kinh tể cũng chỉ mới bắt đầu phát triển.
Trong những năm đó, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Tadjikistan vào Trung Quốc là những nguyên liệu chiến lược – bông và nhôm, - nhôm được sản xuất tại nhà máy có từ thời Xô Viết ở Tursunhad. Cán cân thương mại nghiêng về phíaTadjikistan.
Sang đầu thế kỷ XXI, tình hình đã thay đổi một cách căn bản. Theo các số liệu thống kê thì trong giai đoạn 1999-2004, kim ngạch xuất khẩu từ Tadjikistan vào Trung Quốc tăng gấp hai lần, còn nhập khẩu từ Trung Quốc tăng tới 22 lần.
Theo số liệu của Cơ quan hải quan Tadjikistan thì trong năm 2004, Tadjikistan đã nhập khẩu từ Trung Quốc hơn 1,5 triệu đô la cho chỉ riêng cho mặt hàng vải. Đến hết năm 2004, nhập siêu của Tadjikistan từ Trung Quốc là hơn 50 triệu đôla- đây là một con số rất ấn tượng đối với một nền kinh tế nhỏ như Tadjikistan.
Sự bành trướng kinh tế ồ ạt của Trung Quốc vào Tadjikistan bắt đầu chính từ năm 2004, khi người Trung Quốc hoàn thành việc xây dựng con đường ở khu vực đèo Kulma. Tuyến đường ô tô hiện đại, có nơi chạy trên độ cao 4.000 m so với mực nước biển, đã làm đơn giản hóa đáng kể các mối quan hệ kinh tế- chi phí vận tải giữa hai nước giảm gần 3 lần.
Tadjikistan là nước vẫn duy trì được mô hình “Tadjikpotrbsoiuz” (Liên minh các hợp tác xã tiêu thụ- kiểu như liên minh các hợp tác xã mua bán của Việt Nam thời bao cấp –ND) từ thời Xô Viết, họat động theo phương thức là một xí nghiệp thương mại thống nhất quản lý hàng nghìn cửa hàng và các chợ trong toàn quốc.
Năm 2005, ngay sau khi thông xe tuyến đường ô tô nối với Trung Quốc, “Tadjikpotrbsoiuz” đã ký với Trung Quốc một hợp đồng có giá trị kỷ lục đối với Tadjikistan – hơn 1 tỷ đô la
Theo hợp đồng này, “Tadjikpotrbsoiuz” cam kết trong vòng 10 năm phải mua của các xí nghiệp tại Tân Cương quần áo, hàng tiêu dùng, sản phẩm nông nghiệp, vật liệu xây dựng, máy móc và các mặt hàng khác. Để đổi lại, phía Trung Quốc cam kết xây dựng tại Tadjikistan các xí nghiệp chế biến và cơ sở hạ tầng mới cho các cửa hàng và các chợ.
Việc mở ra tuyến giao thông thuận lợi và tương đối rẻ tiền giữa Trung Quốc và Tajikistan đã làm bùng nổ hiện tượng “buôn bán con thoi” (kiểu như các cửu vạn vận chuyển hàng qua biên giới như ở ta).
Số lượng người làm việc trong “ ngành” này – tức là kiếm tiền bằng việc “đánh” hàng nhập từ Trung Quốc – theo đáng giá sơ bộ là vào khoảng 70.000 người, tức gần 1 % dân số Tadjikistan.
Nhà máy sản xuất nhôm ở Tajikistan,1996. Ảnh: Ratushenko /RIA Novosti
Nhà máy sản xuất nhôm ở Tajikistan,1996. Ảnh: Ratushenko /RIA Novosti
Ngay trong năm 2008, theo số liệu thống kê của chính Tadjikistan thì có tới 96% quần áo và đồ điện sinh hoạt bán trên lãnh thổ Tadjikistan có nhãn hiệu “Made in China”. Từ năm 2002 đến 2009, kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng 100 lần, chủ yếu từ việc nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc.
Thậm chí đến cả bột mì, trước đây chủ yếu nhập từ Nga và Kazakhstan, cũng không chịu nổi sự cạnh tranh và phải nhường thị phần cho bột mì Trung Quốc tại nhiều khu vực ở phía đông Tadjikistan.
Đầu tư đổi lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đến năm 2005, Nga đã tái cơ cấu lại nợ - trên thực tế là xóa cho Tadjikistan một khoản nợ đáng kể để đổi lấy việc bố trí căn cứ quân sự số 201 và tổ hợp giám sát vũ trụ “Nurek”. Đồng thời Quỹ tiền tệ quốc tế cũng xóa cho nước này phần lớn khoản nợ vay từ những năm 90.
Tadjikistan, tuy đã trút được phần lớn gánh nặng nợ nước ngoài nhưng vẫn là một nước nghèo và buộc phải tìm nguồn tín dụng mới – Cả Nga lẫn các cơ cấu tài chính quốc tế đều chưa vội vàng cho Tadjikistan vay tiếp các khoản mới.
Vào thời điểm đó, Trung Quốc không những đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng giao thông cần thiết kết nối nước này với Tadjikistan, mà còn có đủ thời gian và cơ sở để khẳng định là chế độ của Tổng thống Rakhmanov sẽ đứng vững và sẽ tồn tại lâu dài.
Nếu như trước kia Trung Quốc rất thận trọng và chỉ hạn chế ở các khoản cho vay tín dụng không lớn, thì sau năm 2005 Bắc Kinh đã trở thành nguồn cung cấp khoản cho vay chủ yếu cho Dushanbe.
Ngay từ năm 2006, Trung Quốc cấp cho nước láng giềng Tadjikistan 3 khoản tín dụng lớn đầu tiên với tổng giá trị hơn 600 triệu đô la. Đến năm 2012, nợ Trung Quốc đã chiếm 41 % tổng số nợ nước ngoài của Tadjikistan.
Nhìn bên ngoài, Trung Quốc cung cấp tín dụng cho Tadjikistan mà không kèm theo bất cứ điều kiện chính trị nào. Giới lãnh đạo Tadjikistan chính vì thế mà rất hồ hởi nhận các khoản vay từ Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh mà nếu vay từ IMF – thường là bao giờ cũng đi kèm với các điều kiện ngặt nghèo lẫn các tuyên bố (không khác gì chỉ trích) kiểu “ nước này cần phải làm sâu sắc thêm tiến trình dân chủ”.
Nhưng trên thực tế, các khoản tín dụng của Trung Quốc chủ yếu chỉ dành cho các dự án phục vụ các lợi ích chiến lược của Trung Quốc.
Những dẫn chứng được dẫn ra ngay sau đây: phần lớn các khoản tiền cho vay được dùng để xây dựng và cải tạo các tuyến đường bộ và các tuyến giao thông khác nối các thành phố và khu vực chủ yếu của Tadjikistan với tuyến đường ô tô về Trung Quốc như đã nói ở trên.
Những tuyến đường, đường ngầm và tuyến dây tải điện đã trói chặt nền kinh tế Tadjikistan với nền kinh tế Trung Quốc. Không những thế, một trong điều kiện chủ yếu để cho vay là việc xây dựng phải do chính các công ty ( nhà thầu) Trung Quốc đảm nhiệm.
Sự gia tăng mức độ phụ thuộc về kinh tế, tài chính vào Trung Quốc tất yếu sẽ dẫn đến việc điều chỉnh lại đường biên giới của Tadjikistan. Tháng 1/2011, Quốc hội Tadjikistan đã biểu quyết thông qua nghị quyết “cắt” cho Trung Quốc hơn 1.000 km2 ở khu vực dãy núi Sarykolsk ở phía Đông Pamir. Ngay trong tháng 11 năm đó, khu vực lãnh thổ nói trên đã thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.
Tháng 5/2013, trên các phương tiện đại chúng xuất hiện các thông tin mâu thuẫn nhau về việc Trung Quốc đã đơn phương đưa quân chiếm một số khu vực đang tranh chấp ở trên dãy Pamir.
Cũng xuất hiện các tin đồn là Tadjikistan đã điều tới đây các đơn vị quân đội và các phương tiện quân sự dưới danh nghĩa tổ chức tập trận. Tuy nhiên, cả hai nước đã công khai bác bỏ các thông tin nói trên. Ai trên thực tế kiểm soát các khu vực núi cao khó tiếp cận nói trên- đây vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ cho đến tận bây giờ.
Chỉ biết rằng sự phụ thuộc này càng lớn về kinh tế của Tadjikistan vào Trung Quốc đã không cho phép Dushanbe công khai lên tiếng phản đối Bắc Kinh, thậm chí cả trong trường hợp xuất hiện những phức tạp thực sự trong quan hệ giữa hai quốc gia.
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Tadjikistan cho đến nay vẫn rất nhỏ giọt, thấp hơn các khoản mà Trung Quốc cho vay đến hàng chục lần. Các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng từ Trung Quốc thường cố tránh đầu tư vào các xí nghiệp sản xuất và chế biến của Tajikistan, nếu như chúng có tiềm năng cạnh tranh với công nghiệp Trung Quốc.
Nhìn tổng thể, các nhà đầu tư Trung Quốc chỉ quan râm đến lĩnh vực khai khoáng của Tajikistan. Xí nghiệp khai thác vàng duy nhất của nước cộng hòa này “ Tadjikistanski zolotorudnyi combinat” (Liên hợp khai thác vàng Tadjikistan) đã bị công ty khai thác vàng lớn nhất Trung Quốc là Zijin Mining Group Ltd mua lại vào năm 2007.
Mỏ chì và kẽm lớn nhất tại Trung Á là mỏ Altyn-Topkan của Tadjikistan trên khu vực biên giới với Uzbekistan – cũng đã thuộc về Công ty khai thác mỏ Trung Quốc.
Trong căn cứ quân sự số 201 trên lãnh thổ Tadjikistan,2008.Ảnh:X.Gunheev/RIA Novosti
Trong căn cứ quân sự số 201 trên lãnh thổ Tadjikistan,2008.Ảnh:X.Gunheev/RIA Novosti
Trong những năm gần đây, quan hệ kinh tế Tadjikistan với Trung Quốc được thực hiện đúng theo mô hình đã được chính đại sứ Tadjikistan tại Trung Quốc Rashid Alimov công khai thừa nhận: “đầu tư đối lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
Một ví dụ điển hình của mô hình này là việc Tập đoàn “Tebian Electric Apparatus ” của Trung Quốc xây dựng nhà máy điện ở Dushanbe để đổi lấy quyền khai thác khoáng sản tại khu vực Ainhin thuộc Tỉnh Sogdi ở phía bắc Tadjikistan. Trung Quốc khai thác ở khu vực này than đá, antimon và các kim loại quý khác.
Khu vực này là nơi tập trung tới 10% trữ lượng antimon trên thế giới – một loại nguyên liệu không thể thiếu đối ngành công nghiệp kỹ thuật điện hiện đại. Tập đoàn “Tebian Electric Apparatus” cũng chính là một trong những tập đoàn sản xuất các mặt hàng điện tử lớn nhất Trung Quốc.
Máy bơm tiền từ Nga vào Trung Quốc
Để đổi lấy các mặt hàng công nghiệp từ Trung Quốc tất cả các chủng loại, Tadjikistan chỉ thể cung cấp chủ yếu là nhôm, bông và các khoáng sản khác. Trong khi đó thì Trung Quốc từ lâu đã giữ vai trò quyết định trong cả công nghiệp chế biến bông vải cũng như công nghiệp khai thác khoáng sản của Tadjikisan.
Không dừng lại ở đó, Trung Quốc không ngừng “lấn sân” trong cả những lĩnh vực vốn vẫn do Nga kiểm soát. Như năm 2008, Trung Quốc “nẫng tay trên ” của “Rusal” các hợp đồng xây dựng ở Tadjikistan 2 nhà máy sản xuất nhôm frolua và criolit- những sản phẩm thiết yếu đối công nghiệp sản xuất nhôm.
Với 2 hợp đồng này, Trung Quốc có thể gián tiếp tác động đến hoạt động của nhà máy nhôm Tadjikistan- nhà máy xuất khẩu chủ yếu của nước này và là nhà sản xuất nhôm lớn ở Châu Á.
Trong năm 2013, xuất khẩu của Tadjikistan vào Trung Quốc chỉ có trị giá 90 triệu đô la, trong khi nhập khẩu 400 triệu đôla . Để bù đắp thâm hụt thương mại thì Tadjikistan, nói chính xác hơn là người dân Tadjikistan buộc phải tìm kiếm các nguồn thu nhập từ nước ngoài.
Chính Trung Quốc, nói một cách nhẹ nhàng là không quá thiếu hụt lao động. Những nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ quanh Tadjikistan, vì nhiều lý do cũng không thể cung cấp việc làm lẫn thu nhập cho người Tadjikistan. Trong những điều kiện như vậy, nguồn thu đến từ nước Nga.
Ngay từ đầu thế kỷ XXI, số lượng công dân Tadjikistan, làm việc hợp pháp và bất hợp pháp tại Nga là vào khoảng từ 450.000 đến 650.000 người.
Từ đó đến nay, theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới thì Tadjikistan là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ kiều hối do người lao động từ nước ngoài chuyển về trong trong GDP. Trong các năm 2008-2010, thu nhập của các “cửu vạn” Tadjikistan gửi về chiếm khoảng 35 đến 49% GDP của Tadjikistan.
Ít nhất 2/3 số tiền người Tadjikistan làm việc ở nước ngoài chuyển nước về là từ những người lao động ở Nga. Tại Nga, số lượng người lao động Tadjikistan chỉ ít hơn người Uzbekistan- công dân của nước Cộng hòa Trung Á đông dân nhất thuộc Liên Xô cũ (30,24 triệu người –số liệu năm 2013 của Ngân hàng thế giới-ND).
Theo số liệu của Ngân hàng trung ương Nga, tổng số tiền chuyển từ Nga về Tadjikistan trong năm 2013 là hơn 4 tỷ đô la (số tiền chuyển ngược lại từ Tad jikistan vào Nga vào khoảng nửa tỷ đô la).
Con số thống kê nói trên cho thấy một điều là nguồn bù đắp khoảng thâm hụt hơn 300 triệu đôla trong thương mại của Tadjikistan với Trung Quốc lại chính là từ nước Nga.
Nhưng người lao động Tadjikistan kiếm tiền tại Nga (đóng góp tới 1/3 GDP của nước này) và số tiền kiếm được đó lại chi tiêu ở Tadjikistan, nơi mà 90% các loại hàng công nghiệp và các mặt hàng thiết yếu đều có nguồn gốc Trung Quốc.
Cái “máy bơm này” đã hoạt động thành công tại Nga gần hai thập kỷ ,- vừa đảm bảo lợi nhuận cho các chủ lao động ở Nga vì sử dụng nguồn nhân công giá rẻ, vừa đảm bảo cho những người lao động Tadjikistan một mức sống có thể chấp nhận được bằng cách dùng khoản thu nhập đó từ Nga mua các mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc, nhưng mặt khác cái “máy bơm”đó đã cung cấp cho ngành công nghiệp đang phát triển của Trung Quốc một nguồn thu nhập bổ sung đáng kể để lại đầu tư ra nước ngoài.
Những gì đang diễn ra hiện nay cho thấy trong tương lai ngắn hạn, mô hình kinh tế trên sẽ không có gì thay đổi .
  • Lê Hùng

Loạt tàu chiến TQ ‘vờn' đảo Nhật

Thế giới 24h: Loạt tàu chiến TQ ‘vờn' đảo Nhật



Ngày 13/12, văn phòng Hội đồng Tham mưu liên quân thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết một ngày trước đó, một loạt tàu chiến của Trung Quốc đã đi xuyên vùng biển nhưng không đi vào lãnh hải của Nhật.
thế giới 24h
Theo hãng tin Kyodo, 6 tàu khu trục tên lửa của Trung Quốc đã đi từ Thái Bình Dương qua vùng biển giữa đảo chính của Okinawa và quần đảo Miyako tại phía Tây Nam Nhật Bản để tiến vào Biển Hoa Đông.
Các tàu trên được cho là đang tham gia tập trận hải quân của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.
Các tàu chiến này bao gồm: tàu Trịnh Châu (Zhengzhou) 151, Thái Châu (Taizhou) 138, Chu San (Zhoushan) 529, Ích Dương (Yiyang) 548, Thiên Đảo Hồ (Qiandao Hu) 886 và Bắc Cực Tinh (Beijixing) 851.
Sáu tàu này diễn tập đổ bộ và cất cánh cho trực thăng cũng như tiếp tế ngoài khơi tại phía Tây Thái Bình Dương.
Trước đó vài ngày, lực lượng chức năng cũng phát hiện máy bay quân sự Trung Quốc bay trên vùng biển gần Nhật Bản.
Kể từ sau khi Nhật quyết định quốc hữu hóa các đảo đá thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc thường xuyên cử tàu hiện diện tại vùng biển Hoa Đông.

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Trung Quốc và giấc mộng bá vương trên Internet

Trung Quốc và giấc mộng bá vương trên Internet


Trung Quốc đang mải mê với tham vọng thống trị của mình. Không chỉ dừng lại ở những hành động hung hăng ngoài thực địa, quốc gia này cũng đang tận dụng triệt để Internet, tích cực theo đuổi các hoạt động gián điệp mạng vốn được đánh giá là “rủi ro thấp mà sinh lợi cao” nhằm thực hiện tham vọng chuyển mình thành cường quốc kinh tế – quân sự hàng đầu thế giới, đồng thời thống trị không gian mạng và kiểm soát toàn bộ không gian vũ trụ của quốc gia này.
Hiện thực hóa “mộng vàng” bằng các chiến binh mạng Trung Quốc sở hữu một đội quân chiến binh mạng hùng hậu với các nhiệm vụ tác chiến riêng biệt, từ các đội quân mạng thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), đến các nhóm tin tặc được chính phủ chống lưng. Các đội quân này có nhiệm vụ tấn công, xâm nhập vào các hệ thống mạng các nước để tìm kiếm các thông tin tình báo về kinh tế, chính trị, xã hội…và mang về cho chính phủ.
Trung Quốc đang tận dụng triệt để Internet, tích cực theo đuổi các hoạt động tấn công, gián điệp mạng
Quân đội Trung Quốc nổi tiếng với Căn cứ An ninh Thông tin (Information Security Base), đơn vị độc lập đảm nhiệm giải quyết các nguy cơ chiến tranh mạng và bảo vệ an ninh thông tin; Đội quân Xanh PLA (PLA Blue Army) chuyên ngăn chặn các cuộc tấn công an ninh mạng từ bên ngoài và Tổng cục 3 chuyên trách các hoạt động quân sự trên không mạng.
Trong đó, Đơn vị 61398 và Đơn vị 61486 là hai đơn vị tin tặc quân đội thuộc Tổng cục 3, được các hãng bảo mật Mỹ phát hiện trong những năm gần đây. Hai nhóm tin tặc này chuyên tiến hành các hoạt động thu thập tình báo nhằm vào ngành công nghiệp vệ tinh, hàng không vũ trụ, truyền thông cũng như các cơ quan Chính phủ Mỹ và các nước Châu Âu.
Ngoài ra, giới bảo mật mới đây cũng phát hiện nhóm tin tặc do Chính phủ Trung Quốc chống lưng Axiom đã hoạt động trong suốt 6 năm qua và nhắm mục tiêu hàng loạt các cơ quan, chính phủ nước ngoài trên khắp thế giới, cũng như các nhóm chống đối chính trị trong và ngoài Trung Quốc. Axiom được đánh giá là nhóm tin tặc phức tạp nhất từ trước đến nay; các hoạt động của nhóm này tinh vi hơn nhiều so với hoạt động của Đơn vị 61398.
Đội quân không gian mạng của Trung Quốc cũng còn có cả Honker Union of China (Hội Honker Trung Quốc), nhóm tin tặc chuyên tấn công vào các trang web của Mỹ và các chính phủ liên quan, các website hoạt động dân chủ, các vấn đề Tây Tạng.
…bằng kiểm duyệt Internet
Nếu coi kiểm duyệt là tiêu chuẩn để đánh giá sức mạnh trên Internet thì có lẽ Trung Quốc sẽ nghiễm nhiên rinh ngôi bá vương. Để duy trì ổn định chính quyền, ngoài những biện pháp duy trì trật tự an ninh thông thường, Trung Quốc còn muốn khống chế một mặt trận quan trọng hơn đó là không gian mạng.
Chắc hẳn chẳng ai còn xa lạ với hệ thống kiểm duyệt chặt chẽ “Vạn lý Tường lửa” (Great Firewall – GFW) được xem như biên giới Internet của Trung Quốc. GFW kiểm tra, giám sát, lọc và chặn tất cả những thông tin gây ảnh hưởng xấu đến Chính quyền Trung Quốc. Bộ máy này liên tục được chính phủ nâng cấp công nghệ mới để có thể nhận biết, phát hiện và ngăn chặn các phương pháp mã hóa thông tin liên lạc được sử dụng bởi một số dịch vụ Mạng riêng ảo (VPN) khác nhau.
Great Firewall được xem như biên giới Internet của Trung Quốc
Với tôn chỉ kiên quyết kiểm soát Internet, quốc gia này còn kiểm duyệt gắt gao các mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin khi cho rằng những ứng dụng này đã đóng một vai trò lớn trong việc truyền bá tin đồn, các nội dung khiêu dâm và các hệ tư tưởng khủng bố.
Các mạng xã hội thế giới như Facebook, Twitter, Youtube đã nhanh chóng bị chặn và được thay thế bằng phiên bản Trung Quốc như Weibo, Baidu. Hàng loạt ứng dụng tin nhắn của phương Tây ở nước này cũng liên tục bị càn quét như Viber, Instagram, Line, KakaoTalk, Didi, Talk Box và Vower.
Không chỉ dừng lại ở đó, các sản phẩm công nghệ khác cũng là nạn nhân trong chiến dịch “thanh trừng” này của Trung Quốc. Chính phủ nước này đã thẳng tay loại bỏ các thiết bị của Apple ra khỏi các cơ quan chính phủ viện cớ iPhone là mối đe dọa an ninh quốc gia.
Trung Quôc kiểm duyệt gắt gao các mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin
Trước đó, các sản phẩm của hai hãng bảo mật danh tiếng Kaspersky Lab (Nga) và Symantec (Mỹ) cũng chịu chung số phận. Hệ điều hành Windows 8 của Microsoft cũng không được phép xuất hiện trong hệ thống máy tính tại các cơ quan Chính phủ. Thậm chí, Bắc Kinh còn kêu gọi các ngân hàng nước này thay thế máy chủ IBM bằng máy chủ sản xuất trong nước khi có nhu cầu mua sắm.
Chẳng hiểu “cuộc cách mạng” này của Trung Quốc liệu có thể biến giấc mộng bá vương thành hiện thực hay lại là đòn gậy ông đập lưng ông, tự bó hẹp và hạn chế sự phát triển của chính người dân và kinh tế đất nước. Bởi lẽ Trung Quốc có thể tấn công, gián điệp mạng các nước khác thì cũng có  nguy cơ bị trả đũa và việc Trung Quốc kiểm duyệt thông tin cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận đánh đổi lấy những thiệt hại về phát triển tư tưởng của người dân khi không thể tiếp thu thông tin mới cũng như không thể ứng dụng những công nghệ tiên tiến.
Minh Châu

Đài Loan khoe tàu hộ vệ tàng hình

Đài Loan khoe tàu hộ vệ tàng hình

Dân trí Hải quân đảo Đài Loan mới đây đã lần đầu công bố đoạn clip giới thiệu tàu hộ vệ tên lửa tàng hình, được khẳng định là sát thủ tàu sân bay tự thiết kế, trong một động thái được xem như cảnh báo Trung Quốc.

Trong đoạn clip dài gần 2 phút được công bố hôm thứ Tư bởi cơ quan hải quân, chiếc tàu tuần tra tải trọng 500 tấn mang tên Tuo Jiang đã thực hiện những pha chuyển hướng liên tiếp.
Tuo Jiang có thể đạt vận tốc 38 hải lý/giờ
Tuo Jiang có thể đạt vận tốc 38 hải lý/giờ
Chiếc tàu hộ vệ đã đạt tới vận tốc hơn 38 hải lý trong đợt chạy thử, một kết quả được các sỹ quan hải quân khẳng định với hãng thông tấn CNA là đáng “hài lòng”.
“Chiếc tàu hộ vệ sẽ đóng vai trò “sát thủ” trong việc tấn công tàu của kẻ thù, bởi nó có thể lướt đi nhanh và tiếp cận mục tiêu mà không hề dễ bị radar phát hiện”, CNA cho biết.
Đoạn clip giới thiệu thậm chí còn so sánh Tuo Jiang với tàu tấn công USS Independence của Mỹ. Chiếc tàu là một phần của chương trình đóng mới từ 7 – 11 tàu hộ vệ trị giá 800 triệu USD, nhằm phòng thủ trước các tàu sân bay của Trung Quốc, truyền thông Đài Loan khẳng định.
Tuo Jiang có chiều dài 60,4m, rộng 14m, tầm hoạt động 2000 hải lý với thủy thủ đoàn 41 người. Tàu sẽ được trang bị tên lửa đối hạm Hsiung Feng II và Hsiung Feng III cũng do Đài Loan tự chế tạo.
Tàu, do công ty đóng tàu Đài Loan Lung Teh sản xuất, sẽ được đưa về căn cứ tại Suao, phía Đông hòn đảo này.
Phần mũi và đuôi của tàu
Phần mũi và đuôi của tàu
Su Guan-chiun, một chuyên gia quân sự tại Đài Bắc khẳng định chiếc tàu hộ vệ sẽ khắc phục tình trạng thiếu vũ khí tấn công của hải quân.
“Hầu hết các tàu chúng tôi mua từ Mỹ đều chỉ để phòng thủ, ví dụ như các tàu chống ngầm. Đài Loan có nguồn lực rất hạn chế để nhập khẩu vũ khí. Với việc tự phát triển vũ khí, khả năng phát triển của hải quân sẽ không bị hạn chế bởi các nước khác”, ông Su nói.
Hồi tháng này, Thượng viện Mỹ đã thông qua một đạo luật cho phép bán 4 tàu khu trục cho Đài Loan bất chấp phản ứng từ Bắc Kinh.
“Đài Bắc muốn Bắc Kinh biết khả năng phát triển quân sự của chúng tôi đã tiến tới đâu”, Su khẳng định, và cho biết chiếc tàu hộ vệ tên lửa mới là “mối đe dọa thực sự đối với các tàu mặt nước của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”.
Thanh TùngTheo SCMP

Quốc hội Mỹ phê chuẩn 570 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng

Quốc hội Mỹ phê chuẩn 570 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng 2015

Dân trí Một tuần sau khi vượt qua “cửa ải” Hạ viện, hôm qua, Thượng viện Mỹ cũng đã chính thức thông qua dự luật chi tiêu quốc phòng cho tài khóa 2015 với tổng kinh phí 570 tỷ USD, trong đó có 64 tỷ USD dành cho các cuộc chiến ở nước ngoài.

Quốc hội Mỹ phê chuẩn 570 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng 2015
Với ngân sách mới, Mỹ sẽ đẩy mạnh hoạt động chống IS cũng như vũ trang cho phe đối lập ở Syria và Ukraine.
Dự luật được Thượng viện do đảng Dân chủ kiểm soát thông qua với tỷ lệ 89 phiếu thuận và 11 phiếu chống.
Theo đó, trong tài khóa 2015 bắt đầu từ ngày 1/10 vừa qua, Lầu Năm Góc sẽ được cấp tổng ngân sách hoạt động 496 tỷ USD theo đúng mức đề nghị của Tổng thống Barack Obama, cộng thêm gần 64 tỷ USD cho các cuộc xung đột ở nước ngoài.
Trong dự luật, một phần không nhỏ ngân sách quốc phòng trong tài khóa 2015 sẽ được dành cho việc huấn luyện, hỗ trợ và trang bị vũ khí cho lực lượng an ninh Iraq, phe đối lập ôn hòa ở Syria và các lực lượng người Kurd ở Trung Đông để tăng cường khả năng chống các tay súng IS trên mặt đất. 
The đó, dự luật đồng ý dành 3,4 tỷ USD ngân sách cho hoạt động triển khai quân sự trực tiếp của các lực lượng quân sự Mỹ chống IS và tăng thêm 1,6 tỷ USD cho hoạt động huấn luyện các lực lượng người Kurd tại Iraq trong thời gian 2 năm. 
Cho đến nay, hoạt động quân sự chống IS vẫn lấy kinh phí từ ngân sách quốc phòng hiện tại của Lầu Năm Góc. Việc Mỹ phê duyệt ngân sách riêng cho hoạt động chống Nhà nước Hồi giáo (IS) là một bước tiến trong cuộc chiến chống IS của nước này.
Ngoài ra, việc cung cấp viện trợ sát thương cho Ukraine trong cuộc chiến chống lực lượng ly khai ở miền Đông và thúc đẩy các hoạt động nhằm chấm dứt nội chiến ở Syria cũng nằm trong tính toán của khoản chi ngân sách này. 
Dự luật mới cũng quy định rõ về các khoản chi dành cho binh sĩ Mỹ, vốn chiếm khoảng 50% tổng ngân sách quốc phòng. Cụ thể Lầu Năm Góc sẽ giữ nguyên mức lương cho các binh sĩ Mỹ, tăng kinh phí hỗ trợ thuốc men nhưng giảm trợ cấp về nhà ở. Các năm trước, Quốc hội Mỹ thường có xu hướng xét tăng lương cho binh sĩ trước khi để mắt tới những mục chi tiêu khác.
Cũng tại phiên bỏ phiếu, Thượng viện phê chuẩn thêm khoản chi 17,9 tỷ USD cho Ủy ban phụ trách vũ khí hạt nhân, đồng thời buộc Lầu Năm Góc phải tiếp tục duy trì hoạt động của một số hệ thống vũ khí cũ mà trước đó cơ quan này từng đề nghị cho “đắp chiếu” với lý do ngân sách bị cắt giảm. Lầu Năm Góc đề xuất cho tàu sân bay USS George Washington và phi đội máy bay A-10 Warthog “về vườn” để tập trung ngân sách cho các máy bay phản lực hiện đại mới F-35.
Tuần trước, Hạ viện do đảng Cộng hòa kiểm soát cũng đã thông qua dự luật chi tiêu quốc phòng 2015. Dự luật sẽ được trình Tổng thống Obama thông qua trong vài ngày tới.
Vũ Anh-Thoa Phạm
Tổng hợp

Trung Quốc trao giải Khổng tử cho ông Fidel Castro

Trung Quốc trao giải Khổng tử cho ông Fidel Castro

Vương Tiến

BizLIVE - Cựu lãnh tụ Cuba, ông Fidel Castro vừa được Ủy ban giải Khổng tử ở Trung Quốc trao giải năm nay vì 'các đóng góp cho hòa bình thế giới', theo tin BBC.

Trung Quốc trao giải Khổng tử cho ông Fidel Castro
Ông Fidel Castro vừa được Ủy ban giải Khổng tử ở Trung Quốc trao giải vì 'các đóng góp cho hòa bình thế giới'. Ảnh Reuters
 
Sinh năm 1926 và làm lãnh tụ tối cao tại Cuba trong nhiều thập niên trước khi nghỉ hưu năm 2008, ông Fidel Castro trở thành nhân vật quốc tế mới đây nhất được trao giải này.
Tin về giải Khổng tử trao cho ông Fidel được báo Hoàn cầu của Trung Quốc bản tiếng Anh loan tải và ngay sau đó bị một số báo chí tiếng Anh ở Phương Tây phê phán.
Trang Daily Mail ở Anh hôm 11/12 viết:
"Dù từng đẩy thế giới vào bờ vực chiến tranh nguyên tử nhưng nhà cựu độc tài Cuba vẫn được Trung Quốc tặng cho giải như thứ Nobel Hoà bình của riêng họ."
Ý bài báo nhắc đến cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 khi Fidel Castro cho Liên Xô đem đầu đạn hạt nhân tới hòn đảo gần Hoa Kỳ.
Nhưng tờ Hoàn cầu của Trung Quốc lại nói rằng chính vì "Castro khi còn cầm quyền đã không dùng vũ lực để giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế, nhất là với Hoa Kỳ" nên ông xứng đáng được giải Khổng tử.
Báo Anh chê báo Trung Quốc là "như quên mất cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba".
Giải Khổng tử
Được ông Lưu Chí Cần, một doanh nhân tại Trung Quốc lập ra từ 2010 và có trị giá 15 nghìn USD, giải Khổng tử từng có tham vọng cạnh tranh với Nobel Hòa bình.
Ngay cả cái tên của nó cũng tựa như giải Nobel vì được gọi trong tiếng Anh là 'Confucius Peace Prize'.
Trả lời New York Times hồi đó, ông Lưu Trí Cần nói thẳng rằng giải này có mục tiêu đối trọng lại Nobel Hòa bình được trao cho nhà vận động nhân quyền Lưu Hiểu Ba, người ông Lưu Trí Cần gọi là "một kẻ tội phạm".
Thời gian công bố giải này cũng trùng với thời điểm diễn ra lễ trao giải Nobel Hòa bình vào tháng 12 hàng năm ở Na Uy.
Hôm 10/12, hai nhà hoạt động là Malala Yousafzai và Kailash Satyarthi đã nhận giải Nobel Hòa bình trong buổi lễ diễn ra ở Tòa Thị chính Oslo, thủ đô Na Uy.
Còn về giải Khổng tử, hồi tháng 9 năm 2012, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra và nhà sáng lập Microsoft Bill Gates nằm trong số các ứng viên được đề cử.
Một năm trước đó, phía Trung Quốc trao cho nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin về vai trò của ông trong việc nâng cao vị thế nước Nga và đàn áp các lực lượng chống chính phủ ở Chechnya.
Ban tổ chức giải Khổng tử chịu sự quản lý của một hội văn nghệ ở Trung Quốc có đăng ký với Bộ Văn hóa nước này nhưng không phải là một giải thưởng chính thức của chính phủ, theo BBC Tiếng Trung.
VƯƠNG TIẾN

Thanh long Việt Nam gây sốt ở Ấn Độ

Thanh long Việt Nam gây sốt ở Ấn Độ, nhập khẩu tăng 20 lần

Theo Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á (Bộ Công Thương), trái cây thanh long đã trở thành một hiện tượng gây sốt ở Ấn Độ, với lượng nhập khẩu tăng gần 20 lần trong 2 tháng qua.

Thanh long Việt Nam gây sốt ở Ấn Độ, nhập khẩu tăng 20 lần
Ảnh minh họa.
 
Hầu hết thanh long - còn được gọi là Pitaya - nhập khẩu vào Ấn Độ đến từ Việt Nam.
Chính việc thay đổi hình thức vận chuyển từ đường hàng không sang đường biển đã dẫn đến việc lượng thanh long nhập khẩu vào Ấn Độ gia tăng theo cấp số nhân. Điều này đã làm giảm chi phí vận chuyển từ 150 rupi/kg xuống còn 20 Rupi/kg.
Trái thanh long thuộc cây họ xương rồng, bắt đầu được tiêu thụ phổ biến tại các đô thị, đặc biệt là ở miền Nam Ấn Độ. Thanh long trồng tại Ấn Độ có giá bán rẻ hơn so với nhập khẩu nhưng mùa vụ chỉ kéo dài khoảng 5 tháng trong năm trong khi tại Việt Nam gần 10 tháng trong năm.
Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Ấn Độ là một thị trường tiêu thụ lớn nhưng mới chỉ mở cửa cho nhập khẩu thanh long Việt Nam từ đầu năm nay.
Đáng chú ý, thanh long Việt Nam xuất sang nước này không cần phải chiếu xạ và xử lý hơi nước nóng nên việc thâm nhập thị trường này không quá khó.
Thanh long được sử dụng như món tráng miệng yêu thích tại các khách sạn cao cấp của Ấn Độ do dáng vẻ kỳ lạ của nó. Ngoài ra, loại trái cây này cũng nhanh chóng được ưa chuộng trong giới trung lưu và một số tầng lớp khách hàng khác tại Ấn Độ.
 
Theo Báo Người Lao Động