Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

TQ phá hoại ổn định Biển Đông, Mỹ cần tăng cường hiện diện

McDevitt: "TQ phá hoại ổn định Biển Đông, Mỹ cần tăng cường hiện diện"


(GDVN) - Bài viết đề nghị Mỹ tăng cường giúp các nước ven Biển Đông tăng cường năng lực an ninh, thực hiện cam kết đồng minh, tăng cường hiện diện hải không quân...

Máy bay tuần tra P-3C và tàu hộ vệ Mỹ tuần tra ở Biển Đông
Tờ "Hoàn Cầu" Trung Quốc ngày 28 tháng 11 dẫn trang mạng War on the Rocks ngày 25 tháng 11 đăng bài viết của Thiếu tướng nghỉ hưu Hải quân Mỹ Michael McDevitt, nhà nghiên cứu cấp cao CNA Công ty điều tra nghiên cứu Mỹ.
Bài viết cho rằng, khi mọi người suy nghĩ về một cuộc xung đột lớn sẽ nổ ra ở đâu, thường sẽ để mắt tới Biển Đông - khu vực có tính chất bùng nổ nhất, khó quản lý nhất trên thế giới, chủ trương chủ quyền của nhiều nước chồng lấn lên nhau ở đây. Đứng trước tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam cùng với xung đột trực tiếp giữa Trung-Mỹ, Mỹ nên làm thế nào mới có thể tìm được sách lược giải quyết hòa bình?
Đối với vấn đề này, bài viết kiến nghị Mỹ phản hồi với đề nghị của các nước châu Á-Thái Bình Dương, giúp họ cải thiện năng lực an ninh và duy trì trật tự trên biển, đồng thời thông qua nỗ lực tập trung và lâu dài để cam kết cải thiện sức mạnh trên biển cho lực lượng vũ trang Philippines.
Hơn nữa, Washington cần hiện diện để thúc đẩy sự ổn định, không thể tìm cách trực tiếp đối đầu với Trung Quốc. Sự hiện diện của Hải quân và Không quân Mỹ ở Biển Đông phải trở thành trạng thái thường xuyên.
Hải quân Mỹ cũng cần gia tăng thời gian diễn tập với các nước ven biển, đồng thời mở rộng quốc gia tham gia diễn tập tới các nước châu Á khác có liên quan tới sự ổn định khu vực như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ.
Tranh chấp lãnh thổ Biển Đông ngày càng nghiêm trọng
Những vấn đề này của Biển Đông hoàn toàn không mới mẻ, chính sách đầu tiên có liên quan đến tranh chấp Biển Đông của Mỹ được đưa ra vào năm 1995. Chính sách hiện nay cũng hầu như không thay đổi gì, đó chính là sử dụng phương thức ngoại giao hòa bình, phi cưỡng chế để bảo vệ ổn định khu vực, bảo đảm tự do và thông suốt tuyến đường hàng hải bận rộn nhất thế giới này.
Điểm khác ở chỗ, sau khi trải qua 10 năm tương đối yên tĩnh, Biển Đông đã trở thành khu vực tranh chấp nổi cộm, khả năng nổ ra xung đột tiềm tàng tăng lên, đã tạo ra nhân tố bất ổn cho khu vực Đông Nam Á. Mỹ có thể sẽ trực tiếp can dự, bởi vì, Philippines - quốc gia có đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông là đồng minh ký hiệp ước với Mỹ.
Tàu hộ vệ Hải quân Trung Quốc xâm nhập vùng biển bãi cạn Scarborough
Ở khu vực Biển Đông, có khoảng 180 đặc trưng địa mạo nổi trên mặt nước khi có thủy triều. Những nham thạch, chỗ nước cạn, cồn cát, đá ngầm, san hô cùng với những đất bồi và địa mạo dưới nước vô danh phân bố ở 4 phương vị địa lý khác nhau ở vùng biển này.
Toàn bộ hoặc một phần những địa mạo này do Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei tuyên bố có chủ quyền. Yêu sách của Trung Quốc bao trùm tất cả địa mạo của Biển Đông. Nguyên tắc căn bản trong chính sách của Mỹ chính là Washington hoàn toàn không giữ lập trường đối với pháp lý của những chủ trương khác nhau này.
Tại sao có người quan tâm, đặc biệt là TQ muốn có nhiều hơn những đảo đá hoang vu này? Đối với những nước đòi hỏi chủ quyền này, một phần đặc trưng địa mạo lại có giá trị chiến lược quan trọng, đủ để xây dựng đường băng có thể cất hạ cánh máy bay phản lực chiến thuật, hơn nữa có thể kết nối với tuyến đường thương mại trên biển bận rộn nhất thế giới.
Nói tóm lại, giành được chủ quyền những địa điểm này có nghĩa là đã tìm được điểm đứng chân để can thiệp thương mại của Trung Quốc hoặc các nước khác của khu vực Đông Bắc Á. Mặc dù không có nhiều khả năng lắm, nhưng bất kể thế nào, ý nghĩa chiến lược của những hòn đảo trên Biển Đông này từ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất trở đi luôn làm cho các nhà chiến lược ghi nhớ.
Ngoài ra, có chủ quyền còn có thể chiếm hữu tài nguyên ở vùng biển xung quanh - hoặc là lãnh hải 12 hải lý, hoặc là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (nếu coi địa mạo này là đảo). Những đặc trưng địa mạo nổi trên mặt nước khi có thủy triều này liên quan chặt chẽ tới quyền lợi hàng hải, bao gồm có quyền sử dụng nghề cá, hydro carbon và tài nguyên khoáng sản dưới lòng biển. Vì vậy, chủ nghĩa dân tộc là rất quan trọng (đặc biệt là đối với Trung Quốc), bởi vì giương cao ngọn cờ lớn "chủ quyền lãnh thổ" thì có thể hạn chế quyền lựa chọn của nước chủ trương chủ quyền khác.
Trung Quốc đã kiểm soát tất cả khu vực có tranh chấp ở phía bắc Biển Đông. Năm 1974, Trung Quốc cất quân xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (bài báo xuyên tạc là “xua đuổi cưỡng ép lực lượng VN cộng hòa”) và đã kiểm soát nó (một cách bất hợp pháp), đồng thời bất chấp chủ trương chủ quyền liên tục của Việt Nam, chưa từng có dấu hiệu muốn rút lui.
Tàu hộ vệ Hải quân Trung Quốc xâm nhập vùng biển bãi cạn Scarborough (Trung Quốc ăn cướp từ tay Philippines vào năm 2012)
Năm 2012, Trung Quốc tiếp tục "kiểm soát an toàn" bãi cạn Scarboroug ( thực chất là cướp đoạt từ tay Philippines), hơn nữa không có nhiều khả năng từ bỏ trước sự phản đối của Manila. Điều này cho thấy, quần đảo Trường Sa là địa mạo tranh chấp còn lại chưa bị Trung Quốc xâm chiếm thực tế trên Biển Đông.
Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã giải thích "rất tốt" cái gì là "cưỡng chiếm hòa bình". Trung Quốc thận trọng tránh để hải quân trực tiếp can thiệp, chuyển sang dựa vào lực lượng hải cảnh và tàu cá để thực hiện chiến lược "cắt xúc xích", những thủ đoạn nho nhỏ và dần dần gia tăng này sẽ không gây ra “đáp trả quân sự” của nước đòi hỏi chủ quyền khác, nhưng về lâu dài có thể làm “thay đổi hiện trạng theo ý đồ của Trung Quốc”.
Trung Quốc đánh dấu "đường chín đoạn" trên bản đồ Biển Đông (một cách bất hợp pháp) đã làm gia tăng rất lớn tính nghiêm trọng của vấn đề chủ quyền, nó đã bao quát 80% diện tích Biển Đông, đồng thời đã xâu xé vùng đặc quyền kinh tế của các bước ven biển khác.
Trong mấy năm qua, hành vi cứng rắn (hung hăng, hăm dọa) của Trung Quốc cho thấy, "đường chín đoạn" không chỉ là chú thích bản đồ về yêu sách lãnh thổ (bất hợp pháp) của Trung Quốc, mà là tìm cách tuyên bố Trung Quốc (cái gọi là) có "quyền lợi mang tính lịch sử" đối với nghề cá và tài nguyên dầu khí của khu vực này, ý đồ rõ ràng này của Trung Quốc đã liên tục gây ra xung đột với các nước láng giềng.
Mỹ đưa ra nhiều chính sách Biển Đông
Từ mùa hè năm 2010, chính quyền Obama cho biết rõ, đảm bảo tính ổn định dựa trên quy tắc ở Biển Đông là quan trọng hàng đầu trong chính sách quốc gia của Mỹ. Chính phủ Mỹ một mặt thông qua ngoại giao, một mặt tăng cường quan hệ quân sự với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, hy vọng thông qua phương thức kết hợp hai con đường trên để thực hiện chính sách quốc gia này.
Mỹ còn quan tâm đến quyền đi lại tự do ở Biển Đông. Washington cho rằng, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển cho phép bất cứ nước nào thực hiện quyền tự do đi lại ở vùng đặc quyền kinh tế của bất cứ nước nào. Những quyền lợi tự do này đặc biệt cần áp dụng cho hoạt động quân sự hòa bình, bao gồm thực hiện quyền giám sát, theo dõi.
Trung Quốc điều tàu Hải giám 71 đến bãi cạn Scarborough, được tờ "Hoàn Cầu" nước này gọi là "bảo vệ chủ quyền".
Trung Quốc không đồng ý đối với vấn đề này, cho rằng, điều này hoàn toàn không phải là hoạt động hòa bình. Sự phản đối của Trung Quốc đã gây ra 2 sự kiện nghiêm trọng: Sự kiện va chạm trên không giữa máy bay trinh sát Hải quân Mỹ và máy bay chiến đấu đánh chặn của Hải quân Trung Quốc vào năm 2001 và sự kiện tàu cá và tàu bán quân sự của Trung Quốc quấy rối tàu Impeccable của Hải quân Mỹ vào năm 2009. Gần đây, Trung Quốc đã đánh chặn cự ly gần rất nguy hiểm đối với máy bay tuần tra hàng hải P-8 của Hải quân Mỹ, tiếp tục gây ra sự cố ngoại giao.
Mỹ ký kết Hiệp ước quốc phòng với Philippines là một nghĩa vụ quan trọng. Một khi Trung Quốc tấn công Hải quân hoặc tàu cảnh sát biển Philippines, bắn rơi máy bay quân dụng Philippines hoặc gây thiệt hại cho lực lượng vũ trang Philippines, điều khoản "tấn công lực lượng vũ trang Philippines và máy bay, tàu công cộng Thái Bình Dương" liên quan trong hiệp ước sẽ có hiệu lực.
Cuối cùng, vấn đề quan trọng khác liên quan đến Washington cũng liên quan đến Trung Quốc, bao gồm chấm dứt chương trình hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên; giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư v.v... Sự đan xen của những lợi ích quan trọng này đã hình thành bối cảnh lớn của quan hệ Mỹ-Trung, rất rõ ràng, vấn đề Biển Đông không nên trở thành nhân tố quan trọng của toàn bộ quan hệ Mỹ-Trung.
Hiện nay, chính sách Biển Đông của Mỹ bao gồm: bất cứ nước đòi hỏi chủ quyền nào đều không được sử dụng vũ lực và biện pháp cưỡng chế để giải quyết tranh chấp chủ quyền hoặc làm thay đổi hiện trạng khu vực tranh chấp Biển Đông; tự do đi lại bao gồm quyền đi lại hợp pháp không gây trở ngại của tàu thương mại, tàu cá nhân, tàu quân sự và máy bay.
Các nước ven biển cần phải tôn trọng "tự do ở vùng biển quốc tế" theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, bao gồm cho phép tiến hành hoạt động quân sự hòa bình ở vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven biển; tất cả quyền lợi biển của khu vực Biển đông phải lấy luật pháp quốc tế làm nền tảng, phải lấy đặc trưng địa mạo của Biển Động làm căn cứ.
"Đường chín đoạn" của Trung Quốc không phù hợp với tiêu chuẩn này; Mỹ không giữ lập trường đối với đúng sai liên quan của tranh chấp chủ quyền, không ủng hộ chủ trương của một nước áp đặt cho nước khác; xây dựng quy tắc hành vi có hiệu quả là rất quan trọng, điều này có lợi cho hình thành khung quy tắc quản lý và điều chỉnh hành vi của các nước liên quan ở Biển Đông.
Đây là một gói chính sách sáng suốt, tương đối toàn diện và cân bằng có liên quan đến lợi ích của Mỹ. Cùng với sự thay đổi của thời gian, phát ngôn phổ biến của chính phủ sẽ trở nên cụ thể hơn, "trở nên phi ngoại giao" hơn; hiện nay, Mỹ nói rõ hành vi của Trung Quốc là "phá hoại sự ổn định" và "ỷ mạnh hiếp yếu". Việc giải thích chính sách của Mỹ cũng sẽ dựa vào quy tắc và trở nên cụ thể hơn, nó chỉ rõ "đường chín đoạn" là thứ có tính phá hoại nhất ở Biển Đông.
Mặc dù chính sách của chính quyền Obama được cho là sáng suốt, cân bằng, nhưng bị hai phe tả và hữu phê phán, họ cho rằng chính sách này không đủ "cứng rắn" đối với Trung Quốc. Lý do của những người phê phán rất đơn giản, Mỹ khuyên Trung Quốc tuân thủ quy tắc, chấm dứt gây sức ép đối với những nước có chủ trương chủ quyền khác, tìm kiếm bên thứ ba phán quyết công bằng để giải quyết tranh chấp, nhưng Trung Quốc hoàn toàn coi thường đối với vấn đề này. Bắc Kinh rõ ràng cho rằng "lợi ích quốc gia" cao hơn tuân thủ luật pháp quốc tế.
Mỹ cần duy trì hiện diện hải, không quân thường xuyên ở Biển Đông
Trên phương diện quán triệt chính sách, là sự bổ sung cho chính sách hiện có, phương châm chỉ đạo chính sách tổng thể của Mỹ cần bao gồm các nguyên tắc sau: Vấn đề Biển Đông không phải là nhân tố chiến lược quan trọng của quan hệ tổng thể Mỹ-Trung; vấn đề Biển Đông còn chờ giải quyết; nhưng sắp tới không có nhiều khả năng lắm giải quyết dứt điểm ngay; kết quả đàm phán không có mô hình lựa chọn trước.
Không nên coi nhẹ hoặc từ bỏ đàm phán song phương. Tuyên bố chồng lấn của nhiều nước là tình hình thực tế, nên do các nước đòi hỏi chủ quyền trực tiếp đàm phán giải quyết; chính sách của Mỹ không nên thiên về một bên "chống Trung Quốc".
Mỹ cần hành động sau khi được trao quyền, cùng với việc phê phán hành vi của Trung Quốc, cũng cần phê phán hành vi của đồng minh Mỹ, nhưng cần cảnh giác Trung Quốc có thể sẽ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ địa mạo của khu vực này; Mỹ không nên tuyên bố không có kế hoạch dự bị, chính sách có độ tin cậy không cao. Nói tóm lại, không nên phô trương thanh thế.
Hình ảnh căn cứ không quân của Philippines trên đảo Thị Tứ
Mỹ nên xuất bản sách trắng tổng hợp hoặc một loạt sách trắng, bao quát các loại luật lệ quốc tế áp dụng cho vấn đề Biển Đông, lấy tăng cường chính sách hiện nay của Mỹ là nhấn mạnh đối với luật pháp quốc tế, là cơ sở để xây dựng một sự ổn định dựa trên các quy tắc. Bởi vì, quan tâm đến luật pháp quốc tế luôn là trung tâm chính sách của Mỹ, những văn kiện quốc gia này cần do Bộ Ngoại giao ký kết và tuyên truyền thích hợp.
Tháng 1 năm 2013, chính phủ Philippines đưa vụ kiện Trung Quốc lên ủy ban trọng tài, yêu cần đưa ra phán quyết - "đường chín đoạn" Trung Quốc nhằm vào địa mạo dưới mặt nước của thềm lục địa Philippines phải chăng phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, đã kiện Trung Quốc lên tòa án "có hiệu quả". Ủy ban trọng tài phải đưa ra phán đoán phải chăng có quyền xét xử. Bộ Quốc phòng Mỹ cần xem xét ra tuyên bố, ủng hộ mạnh mẽ ủy ban có quyền xét xử này, như vậy Philippines có thể "chứng minh sự minh bạch của họ ở tòa án".
Các nhà quyết sách Mỹ cần cùng với ASEAN, Trung Quốc tìm kiếm khả năng xây dựng "khu khai thác chung ở quần đảo Trường Sa" (?), để khai thác tài nguyên dầu khí của khu vực này. Mục đích ở chỗ tìm được một phương thức thích hợp, cho phép các nước chia sẻ tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở không gây thiệt hại cho chủ quyền biên giới cuối cùng trên biển.
ASEAN thường không hoan nghênh lực lượng bên ngoài can thiệp quyết định ngoại giao của họ, nhưng, hành vi trì hoãn của Trung Quốc đã làm cho việc xây dựng bộ quy tắc (COC) bị cản trở, các nhà quyết sách Mỹ cần nỗ lực xem ASEAN phải chăng hoan nghênh Mỹ tham gia vào thúc đẩy xây dựng COC.
Để giúp đỡ những nước nhỏ ven biển này tự lập, Washington cần phản hồi những đề nghị của họ, giúp họ cải thiện năng lực an ninh và bảo đảm trật tự trên biển, hơn nữa thông qua nỗ lực tập trung và lâu dài để cam kết cải thiện sức mạnh trên biển cho lực lượng vũ trang Philippines.
Kế hoạch "răn đe tin cậy tối thiểu" do Mỹ-Philippines thỏa thuận (về lực lượng vũ trang Philippines) phải được Mỹ ra sức ủng hộ. Đương nhiên, Washington cũng không thể mở rộng nội hàm hiệp ước quốc phòng, ủng hộ Philippines thúc đẩy chủ quyền đối với khu vực gần quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam).
Tàu tiếp tế Hải quân Trung Quốc tiến hành tiếp tế bất hợp pháp cho lực lượng và tàu ngầm của họ tại đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Trạng thái quân sự đã định của Mỹ phải được cải thiện cùng với sự phát triển của chiến lược "tái cân bằng", Washington muốn thông qua hiện diện để thúc đẩy sự ổn định, thì không thể tìm cách đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Trọng điểm ở chỗ, mục tiêu "tái cân bằng" về quân sự là phải bảo đảm Mỹ có quyền can dự Đông Á bất cứ lúc nào, đồng thời qua đó để thực hiện chức trách an ninh đối với đồng minh. Nói một cách trực tiếp, sự hiện diện của Hải quân và Không quân Mỹ ở Biển Đông phải trở thành trạng thái bình thường.
Hải quân Mỹ còn nên gia tăng thời gian diễn tập với các nước ven biển, đồng thời mở rộng đối tượng tham gia diễn tập tới các nước châu Á khác liên quan đến tính ổn định của khu vực như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ.
Kết luận
Ấn tượng để lại từ chính sách của Trung Quốc hoàn toàn không đáng đánh giá cao, những chính sách này làm cho các nước láng giềng khó mà chấp nhận, chỉ có thể thông qua tìm kiếm viện trợ để tăng cường cảm giác an ninh.
Nói tóm lại, người Trung Quốc thiếu tự biết mình, điều này làm cho một số quan chức Mỹ nghi ngờ Trung Quốc phải chăng biết cái gì là có lợi - hành động của Trung Quốc hoàn toàn không thể đem lại lợi ích tối đa cho họ. Trung Quốc rõ ràng biết họ đang làm gì, nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể đọc hiểu bản đồ.
Tình hình thực tế về địa lý là, địa mạo và tài nguyên của các nước chủ trương chủ quyền khác ở Biển Đông luôn bao phủ bởi bóng đen Trung Quốc. Trung Quốc đã là đối tác thương mại lớn nhất của các nước láng giềng Đông Nam Á, quan hệ kinh tế giữa họ đang được TQ vun cho "ngày càng chặt chẽ".
Trung Quốc triển khai tàu khu trục tên lửa mới Type 052D ở Biển Đông
Điều quan trọng là phải ý thức được phương thức xử lý vấn đề Biển Đông của Tập Cận Bình. Ở Trung Quốc, chính trị trong nước thông thường cao hơn chính sách đối ngoại. Tuyên bố chủ quyền cứng rắn đã cung cấp sự hỗ trợ chính trị quan trọng cho ông Tập Cận Bình, đã che giấu những khó khăn gặp phải trong các vấn đề như điều chỉnh kinh tế, chống tham nhũng, suy thoái, hạn chế quyền lợi của các "quan lớn, tướng lĩnh".
Những vấn đề này và sự thực Trung Quốc là lực lượng quân sự lớn nhất châu Á đã cùng tạo dựng nên hình thái chính sách Biển Đông của Bắc Kinh. Tính năng của vũ khí thông thường Trung Quốc vượt các nước láng giềng, bao gồm cả Ấn Độ, sự thực này sẽ luôn tồn tại, ít nhất sẽ tồn tại trong tương lai gần.
Đến nay, hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vẫn chưa gây thiệt hại cho kinh tế, các nước láng giềng của Trung Quốc vẫn tìm cách cải thiện quan hệ. Bắc Kinh hiểu rõ, các nước láng giềng nhỏ hơn không sẵn sàng buộc phải lựa chọn đứng về một bên giữa Trung-Mỹ, họ hy vọng có quan hệ tốt đẹp với cả hai nước. Đã là những nước nhỏ này mãi mãi đều là láng giềng của Trung Quốc, thì so với việc Trung Quốc cần họ, họ sẽ cần Trung Quốc hơn.
Những sự thực này chính là nguyên nhân chính sách hiện có của Mỹ khó mà giải quyết vấn đề Biển Đông. Hy vọng những điều nêu trên đã kết hợp các biện pháp chính sách ngoại giao, pháp lý, xây dựng năng lực và hiện diện quân sự, có thể cải thiện phương thức giải quyết hiện nay, thúc đẩy Bắc Kinh suy nghĩ lại phương châm chiến lược Biển Đông của họ, làm dịu tình hình căng thẳng Biển Đông. Hiện nay, động lực tích cực giai đoạn hậu APEC có thể đánh dấu một giai đoạn khởi đầu của thời kỳ tương đối ổn định của Biển Đông.

Học giả TQ: Mỹ công khai muốn kiểm soát 16 đường biển trên thế giới

Học giả TQ: Mỹ công khai muốn kiểm soát 16 đường biển trên thế giới


(GDVN) - Trung Quốc và Mỹ xác định lợi ích cốt lõi khác nhau, Trung Quốc muốn "chủ quyền", Mỹ muốn kiểm soát các vùng biển, tuyến đường biển chiến lược trên thế giới.

Tờ "Nhân Dân" Trung Quốc ngày 29 tháng 11 đưa tin, "lợi ích cốt lõi quốc gia" là khái niệm được nhiều lần đề cập tới trong mấy năm gần đây, rốt cuộc cái gì là "lợi ích cốt lõi quốc gia"?
Đối với vấn đề này, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Đại học Quốc phòng Trung Quốc, Kim Nhất Nam trả lời phỏng vấn chương trình "Tiếng nói quốc phòng" của Đài phát thanh nhân dân Trung ương Trung Quốc cho rằng, lợi ích cốt lõi quốc gia là lợi ích căn bản nhất của một quốc gia, không tiếc sử dụng “thủ đoạn quân sự, thủ đoạn chiến tranh” để bảo vệ.
Kim Nhất Nam cho rằng, lợi ích cốt lõi quốc gia trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của các nước khác nhau gồm những nội dung khác nhau, lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và Mỹ có sự khác biệt to lớn.
Trong "Sách trắng phát triển hòa bình Trung Quốc" do Quốc vụ viện Trung Quốc công bố vào năm 2011, lần đầu tiên nói rõ, Trung Quốc có 6 lợi ích cốt lõi: chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia, chế độ chính trị quốc gia và sự ổn định của đại cục xã hội, sự bảm đảm căn bản cho phát triển bền vững kinh tế-xã hội.
(Tuy nhiên, Trung Quốc đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” với chủ trương có chủ quyền đối với các đảo và vùng biển trên Biển Đông là bất hợp pháp, vô giá trị, vô hiệu. Hành động xâm lược, bành trướng sẽ không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc ở Biển Đông).
Trung Quốc đòi chủ quyền bất hợp pháp ở Biển Đông
Kim Nhất Nam cho rằng: "Đây là những yếu tố lợi ích, yếu tố môi trường và yếu tố an ninh quan trọng nhất liên quan đến ‘phát triển hòa bình’, xây dựng toàn diện xã hội khá giả và thực hiện phục hưng dân tộc của Trung Quốc, chúng ta (Trung Quốc) phải toàn lực bảo vệ".
Ngoại trưởng Anh Palmerston thế kỷ 19 cho rằng: “Đối với một quốc gia, không có bạn bè vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”.
Kim Nhất Nam cho rằng, về lợi ích cốt lõi quốc gia, ở các nước khác nhau và thời kỳ lịch sử khác nhau, có nội dụng khác nhau, sẽ bị chi phối bởi tính chất nhà nước, chế độ chính trị và hình thái ý thức (ý thức hệ). Lợi ích cốt lõi quốc gia của Mỹ và Trung Quốc có sự khác biệt to lớn.
Ở Mỹ không có khái niệm "lợi ích cốt lõi quốc gia", thay thế vào đó là "lợi ích quốc gia mang tính vĩnh viễn", nội hàm là: Thứ nhất, bảo đảm an ninh của Mỹ và tự do hành động của Mỹ trên phạm vi thế giới. Thứ hai, bảo đảm cho Mỹ tiếp cận các thị trường quan trọng và tài nguyên chiến lược. Thứ ba, ngăn chặn các lực lượng thù địch kiểm soát các khu vực then chốt.
Kim Nhất Nam cho rằng, hiện nay, Đài Loan và Trung Quốc vẫn chưa thực hiện được tham vọng “thống nhất” hoàn toàn, cho nên, trong lợi ích cốt lõi của Trung Quốc bao gồm “chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất quốc gia”, trong khi đó, Mỹ lại không có sự cần thiết này, mục tiêu của Mỹ là muốn kiểm soát toàn thế giới, muốn nắm giữ tài nguyên chiến lược quan trọng của thế giới và kiểm soát đối với các khu vực then chốt/quan trọng.
Tàu tuần duyên Mỹ chốt giữ ở eo biển Malacca
Kim Nhất Nam nói: "Mỹ từng công khai tuyên bố muốn kiểm soát 16 tuyến đường chiến lược quan trọng trên thế giới, đến nay, vẫn chưa có nhà lãnh đạo hoặc truyền thông của bất cứ quốc gia nào nói 'mối đe dọa từ Mỹ'. Nếu Trung Quốc tuyên bố kiểm soát một tuyến đường, dư luận 'mối đe dọa từ Trung Quốc' sẽ lập tức xôn xao".
So sánh giữa Trung-Mỹ hoàn toàn đã thể hiện sự khác nhau về lợi ích quốc gia do quốc gia khác nhau, lịch sử và văn hóa khác nhau, nhu cầu lợi ích hình thành từ địa-chính trị tạo nên.
16 tuyến đường chiến lược quan trọng mà Mỹ công khai tuyên bố muốn kiểm soát đã bao gồm hầu hết các eo biển và đường biển quan trọng trên thế giới, trong đó có 7 ở Đại Tây Dương, 5 ở Thái Bình Dương, 2 ở Ấn Độ Dương, còn 2 ở Địa Trung Hải.
Theo Kim Nhất Nam, đối với các tuyến đường biển quốc tế, có câu cho rằng "6 chìa khóa phong tỏa thế giới", có nghĩa là 6 tuyến đường vận tải biển quan trọng nhất quyết định vận tải năng lượng toàn thế giới. 6 tuyến đường biển này lần lượt là: kênh đào Panama, eo biển Gibraltar, kênh đào Suez, eo biển Hormuz, eo biển Mandab và eo biển Malacca. Hơn nữa, toàn bộ 6 eo biển này nằm trong 16 tuyến đường chiến lược trên biển mà Mỹ muốn kiểm soát.
Kim Nhất Nam cho rằng, Mỹ kiểm soát những tuyến đường này chính là để bảo đảm tự do hành động toàn cầu của họ, bảo đảm sự kiểm soát của họ đối với các khu vực then chốt/quan trọng, bảo đảm họ nắm được các tài nguyên chiến lược quan trọng, điều này chắc chắn có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với duy trì vị thế bá quyền toàn cầu của Mỹ. Đây chính là sự theo đuổi mang tính căn bản về lợi ích quốc gia của Mỹ.
Mỹ tăng cường hiện diện quân sự trên Biển Đông
Theo Kim Nhất Nam: "Mỹ tuyên bố muốn phổ biến tự do, dân chủ, nhân quyến đối với toàn thế giới, trong khi đó, trong đòi hỏi 3 điểm lợi ích cốt lõi của Mỹ, không có tuyến đường nào liên quan đến vấn đề này, mà hoàn toàn là về lợi ích trần trụi của Mỹ, điều này đã cho thấy rất rõ lợi ích căn bản trong hành động của nước lớn này".

Học giả Nga: Moscow nên tránh để Việt Nam thân Trung Quốc hay Mỹ

Học giả Nga: Moscow nên tránh để Việt Nam thân Trung Quốc hay Mỹ


(GDVN) - Cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam là đối tác độc quyền của họ, còn Nga có thể giúp Việt Nam thành một quốc gia trung lập vững chắc.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov.
Học giả Anton Tsvetov thuộc Hội đồng Quan hệ quốc tế của Nga, phụ trách mảng truyền thông và quan hệ chính phủ ngày 24/11 phân tích trên trang web của Hội đồng Nga bình luận, mặc dù các văn bản chính thức của Moscow đều xem Hà Nội là một đối tác chiến lược quan trọng ở châu Á, thực tế mối quan hệ song phương sau sự tan rã của Liên Xô đã rơi vào trì trệ và tạo điều kiện cho Mỹ, Trung Quốc tìm kiếm chỗ đứng vững chắc ở Việt Nam.
Với Nga một lần nữa mong muốn đạt được một sự hiện diện có ý nghĩa ở châu Á - Thái Bình Dương, lúc này là thích hợp để Moscow phân tích vai trò của quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam trong chiến lược khu vực của Nga. Quan hệ Việt - Nga xích lại gần nhau hơn nữa dường như chẳng liên quan gì đến lợi ích của Mỹ hay Trung Quốc. Học giả Anton Tsvetov đặt câu hỏi: "Đối tác chiến lược Nga - Việt là sự thật hay hư cấu? Quan hệ Nga - Việt có thực sự đáp ứng các tiêu chuẩn chính thức của một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hay không?"
Quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Nga - Việt, sự thật hay hư cấu?
Học giả này cho rằng, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng về "quan hệ đối tác chiến lược" nên việc trả lời câu hỏi này không đơn giản, nhưng dường như không có cảm giác xấu nào trong quan hệ Việt - Nga, kể cả về mặt nhà nước lẫn xã hội và người dân 2 nước.
Điều 87 của Quan điểm chính sách Đối ngoại Liên bang Nga năm 2013 tuyên bố, Moscow theo đuổi mục tiêu "tăng cường quan hệ đối tác chến lược với Việt Nam" được thiết lập bởi một sắc lệnh của Tổng thống Nga tháng 5 năm 2012. Tài liệu này xếp Việt Nam đứng sau các nước Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS, Trung Quốc, Ấn Độ, 2 miền Triều Tiên và Nhật Bản, mặc dù thực tế các văn bản chính sách năm 2012 xếp Việt Nam ở vị trí thứ 3 trong danh sách ưu tiên.
Năm 2010, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga được thêm 2 từ "toàn diện", trong khi Quan điểm Chính sách đối ngoại Liên bang Nga gọi mối quan hệ nước này với Trung Quốc là "toàn diện, bình đẳng, tin tưởng và dựa trên tương tác chiến lược". Mối quan hệ Nga - Ấn Độ được xác định là "đối tác đặc quyền". Điều đó cho thấy tồn tại nhiều cấp bậc khác nhau trong quan hệ đối tác chiến lược của Nga, và Việt Nam thì ở khá xa "đỉnh chiến lược".
Nhưng nếu coi mối quan hệ đối tác chiến lược như một khả năng tương thích giữa các lợi ích quốc gia cơ bản, phương pháp tiếp cận tương tự với hầu hết các vấn đề hiện tại, tương tác trên các diễn đàn quốc tế thì quan hệ Nga - Việt gần như hoàn hảo. Tuy nhiên hai bên vẫn còn những điểm khác biệt, trong đó vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là một ví dụ.
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì.
Mối quan hệ đối tác chiến lược thường được đo bằng khối lượng thương mại và mức độ tổng thể của quan hệ kinh tế - thương mại. Trong lĩnh vực này quan hệ Nga - Việt với tổng kim ngạch thương mại hai chiều chỉ khoảng 3 tỉ USD, kém xa quan hệ thương mại Nga - Trung, Nga - Hàn và ngay cả Việt - Trung.
Nga - Việt nên xem lại chiến lược không liên kết?
Chính sách đối ngoại của Nga luôn ưu tiên cho việc tạo ra một môi trường tích cực cho phát triển kinh tế bền vững. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có liên quan, điều này có nghĩa là an ninh khu vực và sự ổn định có liên hệ với việc vùng lãnh thổ phía Đông của Nga hòa nhập vào hệ thống kinh tế Đông Á. Mục tiêu này của Nga sẽ đứng vững nếu Việt Nam trở thành một quốc gia có ảnh hưởng trong khu vực với một chính sách đối ngoại độc lập tương đối.
Cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam là đối tác độc quyền của họ, còn Nga có thể giúp Việt Nam thành một quốc gia trung lập vững chắc. Một Việt Nam mạnh hơn trong khu vực và trong ASEAN có thể tăng cường chiến lược của hiệp hội này, phân phối đồng đều hơn ảnh hưởng của ASEAN như một khối trung lập được sự hỗ trợ của Nga.
Trong bối cảnh cạnh tranh Trung - Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tăng, nguy cơ đối đầu trong khu vực ngày càng lớn, Nga dường như là một nước lớn theo đuổi chính sách cân bằng tương tự như chính sách của Việt Nam. Điều này khiến 2 nước chia sẻ một chương trình chung và Việt Nam có thể trở thành quốc gia đầu tiên "bay vào quỹ đạo Nga mà không phải thân Trung Quốc hay thân Mỹ".
Nếu không phải Hoa Kỳ hay Trung Quốc thống trị ở châu Á - Thái Bình Dương, Nga và ASEAN tất nhiên thích ảnh hưởng của mình lớn hơn là vai trò của một bên trung lập. Nga cũng cực kỳ quan tâm đến việc duy trì nhu cầu đối với các công nghệ và sản phẩm mà Moscow có lợi thế cạnh tranh, bao gồm khai thác khoáng sản, năng lượng, hạt nhân, thủy điện, không gian, hợp tác quân sự quốc phòng.
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.
Ở khía cạnh này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ, căng thẳng ở Biển Đông có thể "hữu ích" với Moscow khi họ thấy được sự quan tâm của người Việt đối với công nghệ quân sự và vũ khí của Nga. Đồng thời Moscow cũng không thể để các tranh chấp ở Biển Đông bùng phát thành một cuộc xung đột quân sự hay chiến tranh toàn diện.
Sự đổ vỡ của hòa bình và ổn định ở Biển Đông thì tuyến hàng hải huyết mạch qua eo biển Malacca sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nền kinh tế châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và tất cả các quốc gia này là thị trường chính của Nga. Một cuộc đụng độ quân sự ở Biển Đông cũng gây ra sự phân cực trong khu vực khiến các nước hoặc là ngả theo Hoa Kỳ, hoặc là thân Trung Quốc, cả hai đều bất lợi cho Nga.

Trung Quốc rào cản quan hệ Việt-Nga

"Trung Quốc rào cản quan hệ Việt-Nga, Moscow cần bước đột phá mới"


(GDVN) - Nga cần phải kiên nhẫn và nhớ rằng, Việt Nam hoàn toàn chống lại khả năng bất kỳ quốc gia nào muốn triển khai quân sự ở cảng Cam Ranh.

Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Việt Nam, ảnh: SCMP.
Học giả Anton Tsvetov thuộc Hội đồng Quan hệ quốc tế của Nga, phụ trách mảng truyền thông và quan hệ chính phủ ngày 24/11 phân tích trên trang web của Hội đồng Nga bình luận, quan hệ đóng kín giữa Moscow và Bắc Kinh đang trở thành rào cản chính của mối quan hệ Nga - Việt.
Trung Quốc, rào cản của quan hệ Việt - Nga
Các điều ước quốc tế lớn với Trung Quốc năm 2001 buộc Nga phải tôn trọng (cái gọi là) toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có liên quan tới tuyên bố yêu sách chủ quyền (vô lý và phi pháp) của Bắc Kinh ở Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).
Hơn nữa Bắc Kinh muốn thấy Việt Nam phát triển "như một người em" của Trung Quốc. Tuy nhiên rõ ràng Việt Nam không hề mong muốn bị khóa chặt trong vòng tay của nước láng giềng phương Bắc. Yếu tố này chắc chắn sẽ thu hút một phản ứng tích cực của Hoa Kỳ năng động và do đó tiếp tục thúc đẩy phân cực trong khu vực. Đồng thời những nỗ lực để củng cố chính sách độc lập của Việt Nam chắc chắn sẽ khiến Bắc Kinh không hài lòng.
Để phá vỡ rào cản này cần một mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Việt nằm đan xen trong chính sách tổng thể của Nga ở châu Á - Thái Bình Dương. Nga khó có thể trở lại châu Á như một sức mạnh quân sự bởi nó khó có thể cải thiện hình ảnh của Moscow, ngược lại càng làm người Nga xa cách hơn với cả Trung Quốc và Mỹ.
Một cách hiệu quả hơn cả là Nga hội nhập và giải quyết các vấn đề phổ biến ở khu vực Đông Á thông qua các cam kết kinh tế, xã hội. Những hoạt động này có thể đống góp nhiều cho sự phát triển kinh tế của vùng lãnh thổ phía Đông nước Nga, đồng thời lại đống vai trò quan trọng trong chiến lược xây dựng nhà nước của Moscow.
Điều này cho thấy Nga sẽ phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên thị trường Việt Nam ngay cả trong lĩnh vực hợp tác truyền thống của mình. Về năng lượng hạt nhân, cả Hàn Quốc và Hoa Kỳ đều rất tích cực xúc tiến hợp tác với Việt Nam nên hợp tác Nga - Việt trong lĩnh vực này khó có thể tiến xa nếu sản phẩm của Nga thiếu đi tính cạnh tranh.
Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ tướng Martin Dempsey thăm Việt Nam với thông điệp nới lỏng một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương.
Nga cần một bước đột phá trong quan hệ với Việt Nam
Trước hết, mối quan hệ tích cực với Việt Nam đòi hỏi Nga phải làm nổi bật rõ ràng như một vị trí quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bởi những lý do lịch sử và các khó khăn hiện tại của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Việt Nam quan trọng đối với chính sách ngoại giao của Nga trong khu vực.
Người Việt cũng coi Nga là một đối tác quan trọng để cân bằng quan hệ với Bắc Kinh và Washington. Do đó nhiều bài báo ở Việt Nam đang nhấn mạnh khả năng hợp tác quân sự ở cảng Cam Ranh. Tuy nhiên Nga cần phải kiên nhẫn và nhớ rằng, Việt Nam hoàn toàn chống lại khả năng bất kỳ quốc gia nào muốn triển khai quân sự ở cảng Cam Ranh.
Mặt khác, tàu chiến Nga có hiện diện ở Cam Ranh cũng sẽ không mang lại lợi lộc gì cho Moscow bởi biển Hoa Đông sẽ cắt kết nối giữa lực lượng này với các căn cứ chính của Nga nên nó khó có thể thúc đẩy lợi ích của Nga trong khu vực. Mặt khác sự tích tụ chính thức của Nga ở Thái BÌnh Dương sẽ gây tốn kém mà lại chỉ củng cố thêm quan điểm cho rằng Nga có tham vọng đế quốc.
Nhiều cơ hội cho sự phát triển dường như phát sinh trong việc hiện đại hóa nền kinh tế của Nga và Việt Nam. Người Việt ưu tiên cho khả năng phát triển công nghệ cao và Moscow có thể cung cấp một lộ trình đáng tin cậy để đa dạng hóa các lĩnh vực như vậy, giảm bớt sự phụ thuộc của Việt Nam vào các đối tác khác, ví dụ như Hàn Quốc.
Hợp tác kỹ thuật quân sự với Việt Nam sẽ phát triển khá lành mạnh, mặc dù nó trái ngược với Ấn Độ khi nó không mấy ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực quốc phòng của Nga. Do đó vũ khí tinh vi hơn của Nga dành cho Việt Nam sẽ giúp chiếm lĩnh thị trường và thúc đẩy các nhà sản xuất phần cứng quân sự Nga phát triển.
Ông Tập Cận Bình thị sát hạm đội Nam Hải ngay sau khi nhậm chức.
Moscow cần yêu cầu Bắc Kinh giải thích rõ về yêu sách với Biển Đông
Vấn đề Biển Đông xứng đáng được đặc biệt chú ý khi Trung Quốc liên tục phản đối quốc tế hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đòi đàm phán giải quyết song phương. Một cách đơn giản, có thể giả sử rằng Nga không muốn chọc tức Bắc Kinh bằng cách "can thiệp vào Đông Nam Á", nhưng vẫn có thể thông qua các hành động bên ngoài nhưng nhắm vào Biển Đông với thực tế là Nga không đứng về phía Bắc Kinh. Trung Quốc sẽ sớm nhận ra họ bị bao vây.
Đồng thời chính sách đối ngoại của Nga vẫn cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế, nó chỉ ra rằng các tuyên bố của Bắc Kinh đòi "chủ quyền" với các đảo ở Biển Đông là không đủ căn cứ. Nga phải chứng minh rằng trong quan hệ quốc tế cần phải tôn trọng các quy tắc pháp lý đã được cả thế giới thừa nhận.
Yêu sách chủ quyền (vô lý và phi pháp) của Bắc Kinh sẽ không thể ngăn cản Nga hợp tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu khí ở Biển Đông (trong vùng biển chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam - PV). Vì vậy trong quan hệ song phương Nga cần thúc đẩy các nhà lãnh đạo Trung Quốc giải thích rõ ràng về quan điểm xung quanh các vấn đề lãnh thổ, bao gồm cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Nga có thể chứng minh sự quan tâm của mình trong việc duy trì mối quan hệ song phương thân thiện nhất có thể với một sự tập trung vào các vấn đề kinh tế. Moscow nên đưa ra ý tưởng hợp tác 3 bên cùng với Việt Nam và Trung Quốc hợp tác khai thác dầu khí ở Biển Đông, Nga nên kiên trì thuyết phục lãnh đạo trong khu vực, chủ yếu là Bắc Kinh không nên "phân biệt phát triển" ở Biển Đông. Nga muốn tự do hoạt động trong khu vực Đông Nam Á mà không quan tâm đến mâu thuẫn Việt - Trung trong khu vực, Anton Tsvetov bình luận.

Trung Quốc đau đầu nhìn bất ổn bùng phát

Trung Quốc đau đầu nhìn bất ổn bùng phát

Trung Quốc đang đau đầu khi tấn công khủng bố lại xảy ra tại Tân Cương, đảng cầm quyền Đài Loan thân Trung thất bại trong bầu cử...

Trong diễn biến mới nhất, tại Đài Loan, Quốc dân Đảng (KMT) cầm quyền đã nhận thất bại nặng nề trong cuộc bỏ phiếu cấp địa phương lớn nhất ở hòn đảo này hôm 29/11.
Theo kết quả chưa chính thức, KMT đã mất chỗ đứng 5/6 đô thị tại Đài Loan, trong đó có hai thành trì quan trọng Đài Bắc và Đài Trung. Người đứng đầu cơ quan hành pháp Đài Loan Giang Nghi Hoa tuyên bố từ chức sau khi khẳng định rằng ông “chịu trách nhiệm chính trị” đối với thất bại nặng nề của KMT.
Cuộc đua cho ghế thị trưởng Đài Bắc được cho là cuộc “thử lửa” đối với niềm tin của chính quyền thân Trung Quốc của ông Mã Anh Cửu. KMT bị chỉ trích là quá thân thiết với Trung Quốc.
Kể từ sau khi đảng KMT lên nắm quyền hồi năm 2008, quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan đã trở nên nồng ấm hơn bao giờ hết. Hơn 20 thỏa thuận thương mại, bao gồm việc thành lập đường bay thẳng đầu tiên nối liền Đài Loan và đại lục, đã được 2 bên ký kết, trong khi trước đó dưới thời đảng DPP, không hề có thỏa thuận nào được ký.
Một số cử tri quan ngại việc KMT tiếp tục củng cố quan hệ với Trung Quốc sẽ khiến Đài Loan bị phụ thuộc về kinh tế và đứng trước áp lực tái thống nhất vào một ngày nào đó.
Nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu bỏ phiếu ngày 29/11
Nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu bỏ phiếu ngày 29/11
Trước khi cuộc bầu cử diễn ra, Trung Quốc đã dùng quyền lực mềm để thu phục Đài Loan. Theo đó, Bắc Kinh khéo léo điều doanh nhân Đài Loan tại Trung Quốc về quê bầu cử.
Tuy nhiên, với kết quả bầu cử sơ bộ, xem ra Trung Quốc phải dần chấp nhận sự thật rằng, ảnh hưởng của chính quyền Bắc Kinh đối với Đài Loan ngày càng suy yếu.
Trong khi đó, cơn đau đầu nặng của Trung Quốc - Tân Cương - lại tiếp tục xảy ra một vụ tấn công khủng bố khiến ít nhất 15 người thiệt mạng và 14 người bị thương.
Theo thông báo của chính quyền địa phương Thiên Sơn, vụ tấn công xảy ra tại huyện Sa Xa vào chiều 28/11 khi một nhóm phần tử lái xe lao vào một tuyến đường có nhiều hàng quán, ném các thiết bị nổ và dùng dao tấn công dân thường.
Vụ tấn công đã khiến 4 dân thường thiệt mạng và 14 người bị thương. Cảnh sát đã nổ súng tiêu diệt 11 đối tượng tấn công.
Huyện Sa Xa tại Tân Cương từng là nơi xảy ra vụ tấn công đẫm máu hồi tháng Bảy, khiến 39 dân thường thiệt mạng, 13 người bị thương và 59 "phần tử khủng bố" bị tiêu diệt.
Đây được xem là vụ tấn công đẫm máu nhất tại Tân Cương từ năm 2009. Tính đến nay, bạo lực tại khu vực tự trị của người Duy Ngô Nhĩ này đã cướp đi sinh mạng của khoảng 200 người tại riêng thủ phủ Urumqi.
Ở một diễn biến khác, Bắc Kinh cũng đang phải chật vật suốt nhiều tháng qua để tìm ra một giải pháp cho cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất tại Hồng Kông kể từ khi được trao trả cho Trung Quốc hồi năm 1997.
Những cuộc trấn áp của cảnh sát Hồng Kông bằng dùi cui và hơi cay càng khiến các cuộc biểu tình thêm kích động. Nhiều người đã ném trứng, chai nước và ván gỗ vào lực lượng chức năng khiến một số cảnh sát đổ máu.
Dù đã mạnh tay dùng vũ lực nhưng có lẽ Trung Quốc sẽ phải mất một thời gian nữa để tình hình Hồng Kông tạm ổn.
Minh Thái

Trung Quốc vươn vòi khai thác dầu khí ở Biển Đông

Trung Quốc vươn vòi khai thác dầu khí ở Biển Đông

Trung Quốc gần đây tuyên bố nước này dự tính sẽ khai thác một mỏ dầu lớn có khả năng cung cấp 6 triệu thùng/năm trên Biển Đông.

Tờ VOV dẫn thông tin từ tờ Want China Times của Đài Loan cho biết, Trung Quốc dẫn từ bản Kế hoạch Hành động Chiến lược về Phát triển các Nguồn tài nguyên cùa Trung Quốc giai đoạn 2014-2020 về việc triển khai khai thác mỏ dầu kể trên.
Cho đến nay, Trung Quốc đã khai thác dầu tại nhiều khu vực ven bờ với diện tích tổng diện tích khoảng 160.000 km² tại Biển Đông, vùng biển có diện tích hơn 3 triệu km².
Với sự phát triển của các phương tiện công nghệ cho phép khoan dầu tại biển sâu và áp lực của nền kinh tế khát năng lượng, Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển các giàn khoan ngoài khơi xa.
Cách nay hơn hai năm, ngày 23/06/2012, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã ngang nhiên loan báo mời nước ngoài đầu thầu thăm dò 9 lô dầu khí ở khu vực mà họ xác định là "vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc" ngoài Biển Đông.
Các lô dầu này nằm sát bờ biển miền Trung và miền Nam của Việt Nam, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.
Theo Reuters, tháng 07/2014, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc tuyên bố đang nghiên cứu khả năng xây dựng một nhà máy khí hóa lỏng nổi trị giá hàng tỷ USD để khai thác khí đốt ở vùng nước sâu của Biển Đông.
Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động khai thác ở Biển Đông
Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động khai thác ở Biển Đông
Biển Đông là khu vực được cho là có trữ lượng lớn về dầu khí. Theo nhật báo kinh tế Pháp   Les Echos, một số ước tính, đặc biệt của các công ty dầu khí và bộ ngành Trung Quốc, đưa ra các con số khổng lồ, từ 17-50 tỷ tấn. Tuy nhiên, theo nhiều ước đoán từ phía Mỹ, thì trữ lượng dầu Biển Đông chỉ ở mức khoảng 1,5 tỷ tấn.
Hồi đầu tháng 11/2014, Trung Quốc cũng tuyên bố họ vừa chế tạo thành công chiếc tàu khoan biển đầu tiên, mang tên "Reignwood Opus Tiger 1" được tài trợ bởi Tập đoàn Reignwood của Trung Quốc và được đóng tại xưởng đóng tàu Thượng Hải. Được biết, đây là tàu khoan đầu tiên Trung Quốc tự thiết kế và và thi công.
Số tiền chính xác đầu tư vào công trình này không được tiết lộ. Nhiều chuyên gia trong ngành ước đoán: tổng chi phí dự án vào khoảng 200 đến 300 triệu USD.
Tờ Tân Hoa Xã lớn tiếng khẳng định, công nghệ tiên tiến của Reignwood Opus Tiger cho phép nó có khả năng thăm dò nguồn dầu khí ở Biển Hoa Đông và cả Biển Đông, vùng biển vốn thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam.
Ông Liu tiết lộ thêm, một tàu khoan dầu thứ hai với những tiêu chuẩn tương tự đang trong quá trình xây dựng. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ đóng thêm tàu giàn khoan hiện đại khác nhằm nâng cao hiệu suất khoan dầu tại nhiều vùng biển trên thế giới.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng tuyên bố giàn khoan Nam Hải 09 của họ đã có thể khai thác ở khu vực nước sâu ở Biển Đông sau khi kết thúc khai thác một mỏ dầu ở gần biển Hoa Đông. Trung Quốc cũng đang đóng thêm một giàn khoan Hải Dương 982, tương tự như chiếc 981 đã vi phạm vào lãnh hải Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua.
Có thể nói Trung Quốc đang đầu tư ồ ạt vào các công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí ở Biển Đông.
Dương Minh (Tổng hợp ĐVO, VOV)

Thực chất sự 'trỗi dậy hòa bình' của Trung Quốc


Thực chất sự 'trỗi dậy hòa bình' của Trung Quốc...

Bộ Quốc phòng Trung Quốc lên tiếng không có kế hoạch lập căn cứ quân sự ở nước ngoài, họ đang thực bụng hay lừa phỉnh?

Thời gian vừa qua, Trung Quốc bị nhiều cáo buộc từ nước ngoài, đặc biệt từ Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ... về việc Bắc Kinh đang tích cực xây dựng các căn cứ quân sự ở nước ngoài.
Cụ thể, Ấn Độ cáo buộc Trung Quốc đang gia tăng sức ảnh hưởng của mình trên vùng biển Ấn Độ Dương. Mục đích của Trung Quốc là thực hiện chiến lược "dải ngọc trai" nhằm kiểm soát sự phát triển của Ấn Độ và thực hiện tham vọng khống chế vùng biển then chốt của tuyến hàng hải Đông - Tây.
Đáp lại những cáo buộc này, ngày 28/11, trong cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, người phát ngôn Geng Yansheng đã phủ nhận hoàn toàn những cáo buộc của các nước. Ông Geng nói: "Hiện tại, Trung Quốc không có kế hoạch xây dựng căn cứ quân sự ở nước ngoài."
Trước câu hỏi trong điều kiện nào Bắc Kinh sẽ điều động tàu chiến và binh lính ra ngoài lãnh thổ, ông Geng trả lời: "Trung Quốc sẽ làm như vậy nếu thấy cần thiết và an ninh của quốc gia bị đe dọa. Ngoài ra, Bắc Kinh không đe dọa bất kỳ quốc gia nào."
Tuy nhiên, thực tế đang chứng minh ngược những gì Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói. Bắc Kinh đang theo đuổi một chiến lược dài hơi nhằm thao túng các điểm trọng yếu về địa chính trị thông qua các dự án đầu tư về cơ sở vật chất tại quốc gia bản địa đó.
Ấn Độ đã dẫn chứng ra một số điểm nóng mà thế giới cần chú ý. Tháng 1/2013, Pakistan đã chấp nhận chuyển quyền kiểm soát cảng Gwadar ở biển Arab từ một công ty của Singapore cho công ty quốc doanh của Trung Quốc mang tên Overseas Port Holdings Limited.
Cảng Gwadar tại Pakistan đang thuộc sự quản lý của một công ty quốc doanh Trung Quốc
Cảng Gwadar tại Pakistan đang thuộc sự quản lý của một công ty quốc doanh Trung Quốc
Ấn Độ nhấn mạnh công ty quốc doanh này là cánh tay vươn dài để Bắc Kinh thâu tóm cơ sở vật chất chiến lược ở vùng biển quan trọng này nhằm kiểm soát đường hàng hải và năng lượng. Nó cũng là bàn đạp để Trung Quốc có thêm những thỏa thuận xây dựng căn cứ hải quân tại biển Arab. Mối quan hệ ngày càng nồng thắm giữa Trung Quốc và Pakistan khiến Trung Quốc dễ dàng đạt được điều đó.
Năm 2012, Trung Quốc đầu tư cho Sri Lanka vay 450 triệu USD xây dựng một cảng nước sâu ở Hambantota, phía nam quốc gia này. Năm 2013, Trung Quốc cho vay thêm 500 triệu USD để xây dựng cảng biển ở thủ đô Colombo.
Tờ Yomiuri Shimbun của Nhật Bản đã liệt kê danh sách một loạt các nước mà Trung Quốc có cổ phần hoặc đầu tư chính (thực tế là kiểm soát) ở các cảng biển quan trọng, thậm chí là chiến lược. Bao gồm: Seychelles, Mauritius, Maldives, Sri Lanka, Bangladesh, Campuchia... Và Bắc Kinh có khả năng cao đạt được đàm phán với chính quyền sở tại về việc xây dựng căn cứ hải quân trong tương lai.
Những động thái đó được tờ Yomiuri Shimbun phân tích, trong tương lai gần, Bắc Kinh dễ dàng thành lập một chuỗi căn cứ quân sự bao vây Ấn Độ và kiểm soát tuyến hàng hải từ Đông sang Tây, thông qua Ấn Độ Dương.
Chưa dừng ở Ấn Độ Dương, tờ Japan Business Press có bài đăng về việc mục đích thực sự của việc xây dựng cảng nước sâu lớn nhất Đông Bắc Á trên lãnh thổ của Nga ở vùng Biển Nhật Bản. Với Nga, đây đơn thuần là lợi ích kinh tế khi họ có thể dễ dàng vận chuyển dầu khí từ vùng Siberia tới Đông Á. Nhưng với Trung Quốc, ngoài việc gia tăng giá trị hàng hóa, Bắc Kinh đang chuẩn bị xây dựng một quân cảng ở đây, có khả năng đánh tập hậu Nhật Bản từ phía Bắc.
Tàu ngầm Type 039 của Trung Quốc thăm Sri Lanka làm dấy lên lo ngại về một căn cứ tàu ngầm trong tương lai
Tàu ngầm Type 039 của Trung Quốc thăm Sri Lanka làm dấy lên lo ngại về một căn cứ tàu ngầm trong tương lai
Chiến lược thâu tóm cơ sở vật chất nhằm kiểm soát kinh tế toàn cầu và xây dựng thế lực quân sự của Bắc Kinh không chỉ dừng lại ở các tuyến hàng hải, mà còn áp dụng với những tuyến đường sắt.
Những năm gần đây, đường sắt Trung Quốc nổi lên như một hiện tượng trên thế giới. Họ liên tiếp đạt được các hợp đồng trị giá nhiều tỷ USD ở các nước thuộc top đầu tàu kinh tế của mỗi khu vực, như Nigeria của châu Phi, Nga của châu Âu, Mexico của Mỹ Latinh...
Tờ Railyway đã từng có bài viết về việc những tuyến đường sắt của Bắc Kinh là "giấy thông hành" để chi phối kinh tế nước ngoài. Từ việc chi phối huyết mạch giao thông kinh tế, Bắc Kinh có thể triển khai tới việc chi phối huyết mạch quốc phòng, quân sự.
Cụm từ “chuỗi ngọc trai” được sử dụng lần đầu tiên trong một tài liệu của Lầu Năm Góc vào năm 2004, có ý chỉ một mạng lưới căn cứ hải không quân trên khắp thế giới.
Trung Quốc luôn cố chứng tỏ rằng việc nước này trở thành nền kinh tế số 1 trên thế giới trong tương lai sẽ không đe doạ đến quyền lợi của bất cứ quốc gia hay khu vực nào. Tuy nhiên, sau những lời lừa phỉnh đó, tham vọng và những gì Trung Quốc đang thực hiện ở Biển Đông, Hoa Đông hay biên giới với Ấn Độ đủ để hiểu sự "trỗi dậy hòa bình" của họ thực chất là gì.
  • Đỗ Phong (Tổng hợp)

Tập Cận Bình tuyên bố 'kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ'


Tập Cận Bình tuyên bố 'kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ'


 

 Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. 


Trung Quốc, đang có xung khắc biển đảo với các nước láng giềng sẽ cương quyết bảo vệ «chủ quyền quốc gia». Trên đây là tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình mà Tân Hoa Xã loan tải trong bản tin hôm nay 30/11/2014.

 Trong hai ngày thứ Sáu và thứ Bảy vừa qua, trong một buổi họp của đảng Cộng sản Trung Quốc về vấn đề ngoại giao, ông Tập Cận Bình tuyên bố là Trung Quốc «cần phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi trên biển và đoàn kết dân tộc một cách kiên quyết». Tập Cận Bình không gọi chính xác quốc gia nào đang «xung khắc» lãnh thổ với Trung Quốc nhưng ông khẳng định là sẽ «quản lý một cách đúng đắn mọi tranh chấp lãnh thổ và biển đảo» chống lại mọi hành động mà ông gọi là «sử dụng vũ lực một cách tùy tiện». Trong cuộc họp tay ba nhân thượng đỉnh G20 vừa qua tại Úc, lãnh đạo ba nước Mỹ, Úc, Nhật ra thông cáo chung, không gọi đích danh Trung Quốc, nhưng cảnh báo nguy cơ xảy ra xung đột quân sự vì tham vọng biển đảo. Trung Quốc liên tục đưa hải thuyền xâm nhập vùng Senkaku/ Điếu Ngư ở Hoa Đông hiện do Nhật Bản quản lý và tăng cường hiện diện, xây dựng quân cảng, phi trường tại Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông mà Bắc Kinh gọi là Nam Hải. Tàu Trung Quốc cũng thường xuyên tấn công ngư dân Việt Nam mà vụ mới nhất xảy ra ngay trong tuần này, theo lời ngư dân Quảng Ngãi tố cáo. 
Nguồn: Tú Anh/ Vi.rfi (vietinfo.eu)