Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

Việt Nam nên kiện Trung Quốc để cả thế giới biết!


Đó là nhận định của ông Jean-Vincent Brisset, cựu Tướng không quân của Pháp nay là Giám đốc nghiên cứu của Viện quan hệ quốc tế và chiến lược của Pháp (IRIS), tác giả của nhiều sách và nghiên cứu về Trung Quốc.
Ông Jean-Vincent Brisset
Ông Jean-Vincent Brisset
Phóng viên VOV đã có cuộc phỏng vấn với ông Jean –Vincent Brisset:
PV: Thưa ông, trong phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á cũng như trả lời phỏng vấn trên hãng tin Reuters, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói đến khả năng Việt Nam sẽ có hành động pháp lý để phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và gây hấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ông nghĩ sao về khả năng hành động đó của Việt Nam?
Ông Brisset: Tôi cho rằng Trung Quốc sẽ tìm cách phong tỏa vụ kiện. Nhưng hành động đó vẫn rất quan trọng, vì Việt Nam cần đưa ra Tòa án quốc tế để cho thế giới biết Việt Nam đang nghĩ gì, lập luận của Việt Nam là như thế nào, chứ không thể để một mình Trung Quốc nói theo ý họ được.
Đây là chiến lược truyền thông cực kỳ quan trọng mà Việt Nam cần phải ý thức được. Việc này trước hết để cho chính các nước ASEAN thấy rằng đang có cách tiếp cận như thế nào với các tranh chấp trên biển Đông để từ đó ASEAN phải thay đổi, tiếp đến là cho cộng đồng quốc tế thấy rõ đây là các tranh chấp.
PV: Ngoài con đường pháp lý, theo ông, đâu có thể là giải pháp mà Việt Nam cần tiến hành trong bối cảnh hiện nay ?
Ông Brisset: Tôi nghĩ rằng, việc Việt Nam nên làm là cần tổ chức ngay một hội nghị gồm những nước ASEAN có liên quan đến tranh chấp biển Đông như Philippines, Malaysia, Brunei hay kể cả Indonesia để thống nhất với nhau cách thức phản ứng trước Trung Quốc.
Các nước ASEAN cần hiểu rằng nếu bị tách riêng không một nước nào trong khu vực đủ sức đương đầu lâu dài với Trung Quốc. Nếu họ nhận thức được tất cả đều sẽ thiệt hại thì họ sẽ phải cùng hành động.
Ngoài ra, tôi cho rằng Việt Nam cần thúc đẩy hơn nữa công tác tuyên truyền quốc tế, cho thế giới xem nhiều hơn những băng hình quay cảnh tàu Trung Quốc tấn công các tàu cảnh sát biết và ngư dân Việt Nam.
PV: Là một trong những chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc tại Pháp, ông nhìn nhận như thế nào về chiến lược của Trung Quốc qua việc đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam lần này?
Ông Brisset: Việc tạo ra sự cố giàn khoan trong thời điểm này là một phần trong tổng thể chiến lược của Trung Quốc nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Họ đi từng bước một và vì họ ý thức được nguy cơ khi tấn công vào toàn bộ các nước ASEAN nên họ nhắm vào từng nước một, trước là Philippines rồi bây giờ là Việt Nam, làm sao để cả ASEAN không có một phản ứng chung mạnh mẽ với họ.
Các nước trong khu vực phải nhìn thẳng vào thực tế rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục sự trỗi dậy này trong tương lai, và sẽ hành động ngày một cứng rắn hơn. Đây là thực tế không được phép trốn tránh và càng đối mặt sớm với nó thì sẽ càng có nhiều cơ hội tạo được một sự cân bằng tương đối hơn trong quan hệ với Trung Quốc.
PV: Liệu theo ông có nguy cơ xảy ra xung đột quân sự trên Biển Đông lần này hay không ?
Ông Brisset: Hiện tại thì không. Trung Quốc biết rằng một xung đột quân sự sẽ khiến cả thế giới nhìn Trung Quốc với con mắt khác và sẽ lên án họ. Vì thế trong căng thẳng ở Hoàng Sa hiện nay, Trung Quốc cố gắng tránh xung đột quân sự.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở cách hành xử. Các tàu của Trung Quốc không phải lúc nào cũng được điều khiển bởi những người có hiểu biết đầy đủ nên nguy cơ dẫn đến các va chạm nghiêm trọng khiến một ai đó mất kiểm soát là tương đối lớn. Khi đó, chỉ một sự mất bình tĩnh sẽ có thể dẫn đến việc leo thang căng thẳng.
**Xin cảm ơn ông!/.

Tân Hoa xã đăng ảnh xuyên tạc cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979


Vào lúc 9h43’ sáng 24/5, Tân Hoa xã cho đăng trên website chính thức của họ ở mục “Tân Hoa quân sự” một serie gồm 10 bức ảnh nhan đề “Những hình ảnh cũ đánh vào đất Việt Nam trong Chiến tranh Trung-Việt” với những lời chú thích bịa đặt, xuyên tạc đầy kích động, rêu rao về cái gọi là “thắng lợi” tưởng tượng của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược biên giới nước ta hồi tháng 2/1979 – một cuộc chiến tranh mà vào dịp kỷ niệm 35 năm xảy ra hồi tháng 2 năm nay, nhiều học giả, nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thẳng thắn gọi đó là “cuộc chiến sai lầm, vô nghĩa”.
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng trong Chiến tranh Biên giới 1979
Luận điệu hiếu chiến
Việc xuất hiện những bài báo kiểu này trên các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc vào thời điểm này không phải là ngẫu nhiên. Sau khi thực hiện hành động đưa giàn khoan Hải dương 981 vào hạ đặt trái phép trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngày 2/5, gặp phải sự phản ứng quyết liệt của Việt Nam, những ngày đầu, các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc không lên tiếng gì về vụ xâm phạm trắng trợn luật pháp quốc tế này, nhưng một số trang diễn đàn mạng nổi tiếng hiếu chiến và kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tư tưởng nước lớn như Tiexue (Thiết Huyết), Sohu, Sina, Xilu… đưa tin kích động. Các trang này đồng loạt đăng tải một bài viết vu cáo: “Các tàu cảnh sát biển Việt Nam định xâm nhập Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) để vây đánh giàn khoan Hải dương 981 của ta…Việt Nam rất ngông cuồng, định trực tiếp vây đánh giàn khoan của ta ngay bên ngoài đường ranh giới lãnh hải ta (Trung Quốc) 4 hải lý”.
Trung Quốc cố tình lập lờ về vùng biển mà họ đang hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981.
Thời báo Hoàn cầu (TBHC), ấn phẩm phụ của Nhân dân Nhật báo (báo in có 2 bản tiếng Anh và Hoa, thêm trang điện tử là Huanqiu.com.cn) luôn đi đầu với những luận điệu hiếu chiến, chống Việt Nam một cách cực đoan: Ngày 6/5, tờ Thời báo Hoàn cầu đăng bài “Trung Quốc cần có thái độ cứng rắn với Hà Nội”, khẳng định sẽ không bao giờ rút giàn khoan Hải Dương 981. Ngày 10/5, TBHC tiếp tục đăng bài xuyên tạc, đánh lừa dư luận quốc tế và người dân Trung Quốc khi ngụy biện cho hành động hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trong vùng biển Việt Nam. Ngày 13/5, báo này lại đăng bài “Sự trung lập của ASEAN là tối quan trọng đối với ổn định của khu vực”, yêu cầu ASEAN “phải giữ trung lập trong các tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines” trên biển Đông; cho rằng, tranh chấp biển Đông “là chuyện giữa Trung Quốc với từng quốc gia thành viên ASEAN, nên giải quyết song phương”.
Khi xảy ra các vụ người dân Việt Nam tự phát biểu tình phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc và bày tỏ ủng hộ chính phủ, TBHC ngày 14/5 đăng bình luận vu khống chính phủ Việt Nam “dung túng, xúi giục biểu tình bài Trung Quốc, tấn công nhằm vào doanh nghiệp và cá nhân người Trung Quốc” với giọng điệu đe dọa: “Hà Nội không được dùng sự bao che quá mức của mình để thử thách quá giới hạn sự kiên nhẫn của Trung Quốc”.
Vu khống, đổ lỗi cho Việt Nam
Nhìn lại tình hình trong những ngày qua, cộng đồng quốc tế đều thấy rõ Trung Quốc đã vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam ở những vấn đề quan trọng:
Thứ nhất, Trung Quốc nói phía họ chỉ có tàu chấp pháp dân sự tại khu vực hạ đặt giàn khoan, còn Việt Nam đưa tàu quân sự; lu loa các tàu Trung Quốc là “nạn nhân” bị các tàu Việt Nam ăn hiếp. Thực tế, các nhà báo quốc tế có mặt tại hiện trường đều đã chứng kiến và đưa tin rộng rãi. Thậm chí, hình ảnh mà đài truyền hình Trung Quốc lấy của Việt Nam để chiếu minh họa cũng cho thấy rõ sự xuyên tạc của họ.
Thứ hai, phía Trung Quốc cố tình lập lờ về vùng biển mà họ đang hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981. Họ cố ý không đề cập gì đến Công ước LHQ về luật biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký và ra sức ngụy biện giàn khoan này đang nằm tại “tại vùng biển cách đảo Trung Quốc 17 hải lý, trong khi vùng biển này cách bờ biển Việt Nam 150 hải lý”, cố tình lờ đi một sự thật: Quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam, năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm khi nó đang thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và không quốc gia nào trên thế giới công nhận đây là vùng lãnh thổ của Trung Quốc nên mọi biện minh của họ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa đều là trái pháp luật.
PV Tiền Phong đang có mặt ở Hoàng Sa để chuyển tải những thông tin chân thực nhất quanh khu vực giàn khoan.
Thứ ba, Trung Quốc cố tỏ ra họ là bên “thua thiệt” qua ý kiến của ông Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải khi nói rằng Hải Dương 981 là giàn khoan duy nhất của Trung Quốc, trong khi Việt Nam đang có tới hơn 30 giàn khoan tại đây. Dù rằng thông tin này là chính xác, thì đó chính là minh chứng hùng hồn rằng cho thấy khu vực này thuộc về vùng biển Việt Nam một cách hiển nhiên, không thể tranh cãi và đã được cả thế giới thừa nhận. Bởi chẳng có lý do gì để cộng đồng quốc tế phản đối Việt Nam đang tiến hành những hoạt động như thế trong vùng biển của mình. Nhưng chỉ một hành động đơn phương sai trái của Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam lập tức bị cả cộng đồng quốc tế lên án.
Thứ tư, Trung Quốc cố tình vu khống Việt Nam sau vụ sự cố về an ninh trật tự hôm 13, 14/5 vừa qua, cố tình lập lờ, đánh đồng sự manh động của một số ít người bị kích động mà vi phạm pháp luật với các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển, kiềm chế, tuân thủ đúng luật pháp quốc tế của các lực lượng chức năng Việt Nam, cũng như các hành động biểu thị lòng yêu nước đúng đắn, hòa bình của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.
Thứ năm, Trung Quốc cố tình xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng; rêu rao văn bản này đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, giới nghiên cứu, luật pháp quốc tế đã chỉ rõ: nội dung công hàm rất thận trọng và chặt chẽ, đặc biệt là không hề có việc công nhận chủ quyền của Trung Quốc hay tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Trung Quốc đã cố tình lợi dụng thiện chí của Việt Nam để nhằm phục vụ cho tham vọng lãnh thổ sai trái của mình.
(Theo Tấm Gương)

Tử huyệt của phòng không Trung Quốc

 Trong sự cố Trung Quốc ngang ngược kéo dàn khoan 981 vi phạm chủ quyền Việt Nam, đe dọa an ninh, hoà bình toàn bộ khu vực Biển Đông, giới quân sự đã mang các thành tố của quân đội Trung Quốc ra để mổ xẻ, trong đó có phòng không. Họ cho rằng: Mỹ biết tỏng các điểm yếu của hệ thống phòng không Trung Quốc

Mấy ngày sau khi Trung Quốc thông báo lập vùng nhận dạng phòng không vào ngày 23/11/2013, trên biển Hoa Đông đã xuất hiện 2 máy bay ném bom В-52 của Không quân Mỹ (USAF), điều đã trở thành vấn đề đối với hệ thống phòng không Trung Quốc.
Một cựu nhân viên USAF cho rằng, đó là sự cảnh cáo đối với Bắc Kinh rằng, Mỹ biết các điểm yếu của hệ thống phòng không Trung Quốc.
Dọc bờ biển Trung Quốc có bố trí 2 cụm radar do hải quân và không quân Trung Quốc lập ra, chuyên gia quân sự của Viện Project 2049 Mark Stokes cho biết. Mắt xích yếu nhất là Lữ đoàn radar số 2 ở tỉnh Triết Giang và Lữ đoàn radar số 4 ở tỉnh Phúc Kiến. Khe hở của trường radar giữa chúng chạy dọc mép phía nam khu vực phòng không mới.
ADIZ mới của Trung Quốc ở nghĩa đen và nghĩa bóng là “một đường kẻ trên cát”, Chủ tịch Global Strategies and Transformation, ông Paul Giarra khẳng định.
Tuần trước, ông Stokes nói rằng, hoàn toàn có thể một máy bay do thám điện tử RC-135 của USAF đã bay trên vùng này của biển Hoa Đông để thu thập thông tin về các tham số kỹ thuật của các radar Trung Quốc đang hoạt động. Các dữ liệu này có thể được dùng để tiến hành tác chiến điện tử chống các radar Trung Quốc nhằm “mục đích làm lẫn lộn hoạt động của chúng” một khi xảy ra xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Nhật Bản vì quần đảo Senkaku. Các máy bay loại này được triển khai tại căn cứ Kadena, tỉnh Okinawa, Nhật Bản. Các máy bay ném bom В-52 chắc chắn đã bay đến từ căn cứ Andersen của Không quân Mỹ trên đảo Guam.
“Các kẽ hở radar” hiện có ở dọc bờ biển Trung Quốc có thể được máy bay Mỹ lợi dụng để tiêu diệt “các bộ phận quan trọng thiết yếu” của phòng không Trung Quốc như các trung tâm điều khiển radar và các trận địa hỏa lực tên lửa phòng không. Mỹ phải tiêu diệt các hệ thống này để sau đó thực hiện các đòn tấn công vào các vị trí triển khai tên lửa hành trình và tên lửa đường đạn tầm ngắn.
Ngoại lệ duy nhất bên ngoài quy luật này là một radar mạnh với anten mạng pha bố trí ở tỉnh Triết Giang và thuộc quyền chỉ huy của bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc. Có tin hải quân, không quân và bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc vẫn còn mắc bệnh quan liêu nên không cho phép tạo ra một trường radar thống nhất.
Tuy nhiên, ông Stokes cho rằng, với thời gian, hệ thống phòng không Trung Quốc sẽ khắc phục được “các kẽ hở radar” để tạo ra một hệ thống quan sát không trung thống nhất tự động hóa.
Ông Giarra cho biết, sở dĩ mạng lưới phòng không Trung Quốc có các kẽ hở là vì hoạt động phối hợp không được nhịp nhàng giữa hải quân và không quân Trung Quốc dọc theo biên giới biển.
Ông Stokes cho rằng, nếu không tạo được một hệ thống phòng không/phòng thủ tên lửa tích hợp thì không thể giải quyết các nhiệm vụ phòng không đất nước và nói rằng, việc Trung Quốc lập khu vực nhận dạng phòng không mới sẽ cho phép họ hiểu tốt hơn nhu cầu này. “Từ góc độ này, việc lập khu vực phòng không mới là bài học khá hữu ích cho Trung Quốc, ông Stokers nói.
(Theo Petrotimes)

Xung đột quân sự trên Biển Đông: Hãy định giá đúng!

(Phản đối Trung Quốc xâm lược) - Nếu như có xung đột quân sự trên Biển Đông thì kẻ bị thảm họa không lường trước được chắc chắn không phải là Việt Nam.

Vài chục chiếc máy bay, tàu chiến Trung Quốc diễu võ dương oai xung quanh giàn khoan hạ đặt phi pháp trong thềm lục địa và EEZ của Việt Nam có vẻ như để sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự với Việt Nam, có vẻ như Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc mà dựa vào Hạm đội Nam Hải đằng sau, họ có thể đưa giàn khoan Hải Dương 981 hay “hàng trăm giàn khoan vào Biển Đông” như tướng diều hâu La Viện hô hào, vào nơi nào họ muốn mà không phải trả giá.
Đừng đánh giá quá cao về con số như, 30 vạn quân, 60 vạn quân; trăm tàu tên lửa, khu trục, tàu ngầm vân vân. Những con số này không có ý nghĩa gì với Việt Nam, một dân tộc đã từng, đã quen “lấy ít địch nhiều” trên trận mạc.
Tàu Trung Quốc hung hăng phun vòi rồng tấn công tàu Việt Nam.
Tàu Trung Quốc hung hăng phun vòi rồng tấn công tàu Việt Nam.
Biển Đông không phải của riêng ai!
Trung Quốc và Nhật Bản đều có tuyến hàng hải trùng nhau, đồng thời tuyến hàng hải cũng là con đường quyết định sự sống còn của 2 nền kinh tế này, do đó cũng là sự sống còn của an ninh 2 quốc gia Trung, Nhật.
Chiếm hết Biển Đông để khống chế được tuyến hàng hải có nghĩa tham vọng này của Trung Quốc đã đụng chạm đến Nhật Bản, uy hiếp nhiều nhất đến an ninh Nhật Bản.
Senkaku với Nhật Bản không quan trọng bằng Biển Đông về lợi ích chiến lược. Nếu mất Biển Đông về tay Trung Quốc, Nhật Bản sẽ bị Trung Quốc ép mạnh ở Hoa Đông và đòn phong tỏa tuyến hàng hải trên Biển Đông của Trung Quốc sẽ khiến cho Nhật Bản rơi vào tình cảnh lựa chọn khắc nghiệt một mất một còn. Nhật Bản sẽ chọn Sekaku hay an toàn hàng hải trên Biển Đông?
Vì vậy trên Biển Đông, Trung Quốc muốn chiếm trọn là điều không thể chấp nhận được đối với Nhật Bản. Biển Đông, trước tiên là nơi đụng độ, đối đầu chiến lược của 2 cường quốc khu vực là Nhật Bản và Trung Quốc mà đã, đang bắt đầu bằng một cuộc chiến địa chính trị quyết liệt trên khu vực ĐNA.
Nhìn vào các tuyến hàng hải sống còn của các quốc gia liên quan từ Trung Đông, Ấn Độ Dương qua Biển Đông đến Đông Bắc Á-TBD, chúng ta đều nhận thấy, nếu như có xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông thì tuyến hàng hải thương mại, năng lượng sẽ bị gián đoạn, cắt đứt là điều không tránh khỏi. Hai cường quốc khu vực châu Á-TBD là Trung Quốc và Nhật Bản có hai nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến hàng hải này sẽ bị điêu đứng đầu tiên.
Ngay với Australia, tưởng như miễn nhiễm với sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng hơn 2/3 hàng hóa xuất khẩu và ? nhập khẩu cũng đều phải qua tuyến hàng hải Biển Đông, trước việc Trung Quốc hung hăng hạ đặt giàn khoan trên vùng biển Việt Nam khiến nguy cơ xung đột quân sự xảy ra cũng đang vô cùng lo ngại và dư luận trong nước đang đòi phải chơi rắn với Trung Quốc… là đủ hiểu Biển Đông không phải của riêng ai.
Hãy tưởng tượng nếu một khi quốc gia nào đó khống chế được hoặc bị gián đoạn hay bị cắt đứt do xung đột quân sự thì cục diện kinh tế , chính trị khu vực Châu Á-TBD sẽ ra sao.
Vì thế, tự do, an toàn hàng hải trên Biển Đông luôn là vấn đề đặt ra cấp bách với mọi quốc gia liên can. Không những thế đây là vấn đề thuộc “lợi ích quốc gia” sống còn của các bên có tuyến hàng hải.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Xung đột quân sự trên Biển Đông nghĩa là…như thế nào?
Có lẽ trên báo Đất Việt, tên tuổi của Hưng Nhượng vương Trần Khánh Dư, viên tướng đánh thủy giỏi nhất dưới thời Trần Hưng Đạo đã hiện lên không ít lần. Đoàn thuyền chiến của Trần Khánh Dư trong trận đầu đối đầu với hơn 500 thuyền chiến của Ô Mã Nhi đã thất bại nhưng trận tiếp theo, lợi dụng đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi đang hăm hở tiến về Thăng Long, Trần Khánh Dư tập hợp lực lượng nhấn chìm toàn bộ đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ. Đây là đòn cực hiểm, một thắng lợi mang tầm chiến lược khiến quân Nguyên Mông phải rút chạy và chiến thắng Bạch Đằng đã lưu danh vào lịch sử.
Trên Biển Đông, “đoàn thuyền lương” hay dòng hàng hóa khổng lồ của Trung Quốc, Nhật Bản của Australia…luôn rất tấp nập trên tuyến hàng hải “cắt mặt Việt Nam” mà ngay Trung Quốc cũng coi như “đường sinh mạng” của mình.
Ngày nay một cuộc đối đầu giữa 2 quốc gia với nhau không chỉ đơn thuần là dùng các đòn quân sự mà dùng đòn kinh tế còn đánh sập đối phương nhanh hơn, hiệu quả hơn đòn quân sự rất nhiều. Cấm vận, trừng phạt, phong tỏa…đã làm cho không ít quốc gia điêu đứng, tan rã, mà ngay cường quốc quân sự như Nga hiện giờ cũng phải lo sợ. Người ta có thể trốn tránh được tên lửa, bom đạn nhưng khi bị đói rét, đói khát thì trốn, tránh nơi đâu cũng không thể thoát .
Hãy xem tuyến hàng hải của các tàu thương mại, vận chuyển năng lượng mà Trung Quốc cần phải bảo vệ an toàn (có viền đỏ bao quanh).
Hãy xem tuyến hàng hải của các tàu thương mại, vận chuyển năng lượng mà Trung Quốc cần phải bảo vệ an toàn (có viền đỏ bao quanh).
Với một tuyến hành lang dài và xa căn cứ như vậy thì về nguyên tắc Trung Quốc phải phân tán lực lượng để bảo vệ, đó là chưa nói đến nghệ thuật phân tán lực lượng địch của Việt Nam buộc Trung Quốc phải phân tán.
Nếu xung đột quân sự trên Biển Đông xảy ra, với nhãn quan quân sự của mình, tôi cho rằng Việt Nam không dại gì dốc hết lực lượng để đối đầu một trận với PLAN mà nhằm vào các tử huyệt của địch trên tuyến hàng hải để kéo căng lực lượng địch, tạo điều kiện cho ta thực hiện các đòn đánh khác…
Chỉ ngay vụ giàn khoan Hải Dương 981, đối đầu với tàu Kiểm Ngư và CSB Việt Nam mà Trung Quốc cứ tăng dần lực lượng từ 80 nay lên đến 134 tàu chiến máy bay thì liệu Trung Quốc có mấy chục Hạm đội Nam Hải để phủ kín Biển Đông?
Với tư tưởng tác chiến đó, thì Cam Ranh hay đúng ra là lực lượng hải quân, không quân tinh nhuệ hiện đại của Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh sẽ như một thanh kiếm sắc lẹm cận kề trong gang tấc các tử huyệt của tuyến hàng hải quan trọng này.
Chúng ta không chủ quan, duy ý chí, để khẳng định thắng hay bại khi đối đầu với một lực lượng hải quân, không quân hùng hậu, hùng mạnh của đối phương, nhưng để cắt đứt hay làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ vận chuyển qua Biển Đông thì chắc chắn không khó với lực lượng hiện có tại Cam Ranh.
Không có một tuyến hàng hải nào “qua mặt” được Cam Ranh
Bất kỳ tuyến hàng hải nào cũng đều buộc phải“qua mặt” Cam Ranh
Nếu như tại eo biển Malacca, Malaysia chỉ cần vài quả thủy lôi và pháo binh tầm xa là phong tỏa được yết hầu này thì với Cam Ranh, khó hơn một chút nhưng, chỉ cần một lực lượng máy bay tiêm kich bom, máy bay diệt hạm…xuất phát từ những sân bay gần như là sát với tuyến hàng hải là chúng đủ sức thực hiện nhiệm vụ.
Trung Quốc gây xung đột quân sự trên Biển Đông nếu chỉ đơn thuần là đánh chiếm mấy hòn đảo thì đó mới chỉ là khó khăn ban đầu và Trung Quốc muốn chiến cuộc hạn chế trong phạm vi đó thôi thì hộ đã đánh giá quá thấp ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt. Đừng hoang tưởng!
Tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa, chỉ cần có đủ cơm, muối và nước uống là Việt Nam đánh giặc đến khi nào thắng thì thôi, mà những thứ đó Việt Nam bây giờ không thiếu, không giống như thập kỷ 80. Còn Trung Quốc, tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trên nền tảng một nội bộ bất ổn, lòng dân không thuận thì nước loạn chỉ là vấn đề thời gian.
Xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông là vậy đó. Đừng dại dột đem búa thử kính.
Lê Ngọc Thống (Theo Đất Việt)

Mưu đồ của Trung Quốc với giàn khoan 981?


Giàn khoan Hải Dương 981 là thuộc Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC). Được thành lập năm 1982, CNOOC là một trong 116 doanh nghiệp nhà nước thuộc quyền quản lý của Ủy ban Giám sát và Quản trị Tài sản nhà nước của Quốc vụ viện tức Chính phủ Trung Quốc (SASAC). Dù xếp sau Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (CNPC) và Sinopec trong lĩnh vực dầu khí, nhưng CNOOC là công ty lớn nhất ở Trung Quốc trong lĩnh vực tìm kiếm, khai thác dầu khí ở ngoài khơi.
Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đang hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
Để đáp ứng cơn khát dầu của Trung Quốc, trong bài viết “CNOOC’s Offshore Strategy Intensifies”, đăng trên mạng Energy Tribune ngày 18/7/2013, Tim Daiss cho rằng nhiệm vụ mà Bắc Kinh giao cho CNOOC là phải tìm kiếm được nhiều dầu khí chừng nào có thể.
Với mức tăng trưởng kinh tế hiện tại và – cùng với sự tăng trưởng đó – ngày càng có nhiều người Trung Quốc dùng xe hơi, quốc gia này càng ngày càng cần dầu khí. Mãi tới năm 1993, Trung Quốc vẫn là một quốc gia xuất khẩu dầu. Nhưng theo Cục Quản lý Thông tin năng lượng (EIA) của Mỹ vào tháng 9/2013, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới. Theo số liệu của của EIA, mỗi ngày Trung Quốc cần nhập đến 6.3 triệu thùng dầu dù Trung Quốc là nước sản xuất dầu lớn thứ tư trên thế giới (4.5 triệu thùng/mỗi ngày trong năm 2013). Trong khi con số ấy ở Mỹ là 6.1 triệu.
Không khai thác đủ dầu cho tiêu thụ nội địa một phần cũng vì – như Tim Daiss nhận định – các nguồn dầu dự trữ của Trung Quốc một ngày một cạn. Vì vậy, Trung Quốc cần tìm kiếm dầu từ các quốc gia khác. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện tại, dầu khí còn đóng một vai trò quan trọng khác trong chiến lược phát triển – và đặc biệt tham vọng trở thành cường quốc – của Trung Quốc.
Trong cuốn “China, Oil and Global Politics”, xuất bản năm 2011, Philip Andrews-Speed và Roland Dannreuthe cho rằng Trung Quốc đạt được tham vọng đó hay không tùy thuộc rất nhiều vào việc nước này có tìm đủ được nguồn dầu khí.
Vì những lý do đó, qua CNOOC, Bắc Kinh đã và đang tìm cách ký kết các hợp đồng mua bán, khai thác dầu khí tại nhiều nước khác nhau ở Nam Mỹ, Trung Đông hay châu Phi. Và quan trọng hơn cả là việc chính quyền Bắc Kinh ra lệnh cho CNOOC xây dựng giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 để đi vơ vét dầu khí ở những vùng biển tranh chấp và thậm chí còn hơn cả thế nữa.
CNOOC đã đầu tư đến 923 triệu USD và mất ba năm để xây dựng giàn khoan này. Hải Dương 981 là một giàn khoan nước sâu khổng lồ – nặng đến 31.000 tấn, dài 114 m, rộng 90 m, cao 137.8 m – và có thể hoạt động ở độ sâu tối đa 3.000 m.
Hải Dương 981 đã được chính thức đưa vào hoạt động vào ngày 9/5/2012 khi tiến hành khoan trên biển lần đầu tiên tại một vị trí trên Biển Đông, cách Hong Kong 320 km.
Song song với việc xây dựng giàn khoa này, CNOOC còn tìm cách ký kết các hợp đồng (mua bán, hợp tác) với nhiều công ty khác trên thế giới để thăm dò, khai thác dầu khí để thủ đắc những trang bị kỹ thuật hiện đại.
Biếm họa về cơn khát dầu của Trung Quốc
Khu vực nước sâu Biển Ðông là một khu vực hầu như chưa được đụng chạm đến xét về mặt khai thác dầu mỏ và khí đốt. Lý do quan trọng nhất khiến khu vực này còn chưa được đụng chạm đến là vì tranh chấp chủ quyền khiến các công ty tư nhân không ai muốn thăm dò và khai thác ở vùng biển này. Từ giữa năm 2012, khi chủ đề này trở nên nóng, hãng tin Reuters đã trích lời của Gordon Kwan thuộc Mirae Asset Securities cho rằng “nếu bạn có thể khoan dầu ở miền tây châu Phi, Vịnh Mexico, Brazil, hay Biển Bắc, thì tại sao lại phải đến Biển Ðông làm gì?”
Trong khi các công ty tư nhân không muốn mạo hiểm làm ăn trên Biển Ðông, các công ty của nhà nước như CNOOC có thể có lý do để tiến vào khu vực này. Vì theo lời chủ tịch của CNOOC hồi năm 2012, Wang Yilin, các giàn khoan nước sâu, ngoài chức năng kiếm tiền cho công ty, còn là các “lãnh thổ quốc gia di động” và là một “vũ khí chiến lược”.
Trên thực tế, việc khai thác dầu khí ở Biển Ðông cũng không được bất cứ bên nào đả động đến cho mãi tới thời gian gần đây. Lý do là để thăm dò và khai thác được dầu/khí ở các vùng nước sâu thì phải cần đến các công nghệ khai thác ở vùng nước sâu (thí dụ như các giàn khoan nước sâu lưu động hoặc các tàu khoan).
Trên nguyên tắc, các nước có thể thuê các thiết bị khoan ở vùng nước sâu như thế. Tuy nhiên, do sự bùng nổ về công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí, công suất sử dụng của các thiết bị khoan nước sâu luôn ở mức 90% đến 100%, vì vậy việc thuê mướn thiết bị gần như là không thể. Ðó là chưa kể những quan ngại về chuyện ăn cắp công nghệ khi cho các công ty ở các quốc gia không có truyền thống tôn trọng vấn đề bản quyền thuê.
Vì thế, để thực thi chủ quyền trên thực tế thông qua việc khoan dầu/khí ở Biển Ðông, các bên tham gia tranh chấp trên vùng biển này sẽ phải dựa vào thực lực công nghệ của chính mình, hoặc là đi mua. Trong số các nước đang tranh chấp ở khu vực này, mới chỉ có Trung Quốc là có được công nghệ khoan ở vùng nước sâu, và cũng chỉ mới có được từ năm 2011. Dự án trị giá tới gần 1 tỉ USD được hoàn thành và đặt tên Hải Dương 981 do CNOOC sở hữu có khả năng khoan với độ sâu 3km dưới mặt nước biển.
Kể từ đó Trung Quốc liên tục đề cập đến câu chuyện khai thác dầu khí ở Biển Ðông. Ðộng thái đầu tiên kể từ khi có Hải Dương 981 là đưa giàn khoan này tới khoan thử ở vùng biển phía Tây Nam của Hồng Kông giữa tháng 5/2012. Vùng biển này, theo AP, nằm hoàn toàn trong chủ quyền của Trung Quốc chứ không thuộc vùng đang bị tranh chấp trong Biển Ðông. Tuy nhiên, độ sâu của vùng khoan “thử nghiệm” này chỉ có khoảng 1,5km. Ðiều này làm nhiều người khi đó đồn đoán rằng Hải Dương 981 có nhiều khả năng sẽ được kéo xuống vùng biển tranh chấp để thực thi cái gọi là “lãnh thổ quốc gia di động” theo lời của chủ tịch CNOOC.
Ngoài chức năng kiếm tiền cho công ty, các giàn khoan nước sâu của CNOOC còn là các “lãnh thổ quốc gia di động” và là một “vũ khí chiến lược”
Tuy nhiên, có giàn khoan 981 không thì chưa hẳn đã đủ, vì công nghệ là một chuyện, còn kinh nghiệm lại là chuyện khác. CNOOC đã đi thêm một bước đi nữa là mua thành công công ty dầu khí Nexen của Canada với trị giá hơn 15 tỉ USD hồi đầu năm 2013. Ðây là một công ty thuộc hàng “lão tướng” trong việc khai thác dầu khí ở vùng nước sâu với nhiều năm hoạt động khai thác ở vịnh Mexico. Với sự tăng cường kinh nghiệm và công nghệ của Nexen, có vẻ như điều kiện đã đủ “chín” để CNOOC đưa 981 xuống vùng Biển Ðông của Việt Nam.
Theo giới quan sát, việc Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam là một hành động “ném đá dò đường” về chính trị nhiều hơn là một hoạt động thăm dò dầu khí thực sự.
“Thực thi chủ quyền thực tế” trên Biển Ðông của Trung Quốc là câu chuyện mà giới phân tích đã dự liệu từ lâu. Ðộng thái mới này, tuy đột ngột về mặt thời điểm, không phải là một động thái bất ngờ về mặt chiến lược và chiến thuật.
Các chuyên gia cho rằng một phản ứng quyết liệt và biết kìm chế của Việt Nam là hết sức cần thiết. Việt Nam không nên chủ động châm ngòi một cuộc xung đột vũ trang trên biển, nhưng Việt Nam phải làm mọi cách để hoạt động thăm dò của giàn khoan 981 không thể diễn ra, bao gồm cả việc điều động lực lượng hải quân ra can thiệp.
Nếu Việt Nam không làm điều này, thì Biển Ðông không chỉ có Hải Dương 981, mà sẽ còn có nhiều giàn khoan khủng nữa trong tương lai đến từ Trung Quốc. Với công nghệ và kinh nghiệm của Nexen mà CNOOC đã nuốt trọn, điều này là hoàn toàn khả thi.
(Theo Năng Lượng Mới)

Chủ quyền không thể mặc cả, nhân nhượng được

(Phản đối Trung Quốc xâm lược) - Là người theo dõi, am hiểu về Trung Quốc, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy (nguyên Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc) đã từng nhiều lần cảnh báo Việt Nam cần chuẩn bị cho những bước đi ngang ngược của Trung Quốc nhằm mục đích độc chiếm biển Đông. Hành động mới đây của Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam là minh chứng rõ rệt cho nhận định này của ông. Trước những diễn biến của sự kiện này, nhà nghiên cứu đã có những phân tích:

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy
Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy
Chúng ta không thể lùi được nữa
- Thưa ông, đến thời điểm này Trung Quốc đã huy động tới hơn 130 tàu các loại và cả máy bay đến khu vực hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 để bảo vệ giàn khoan và ngăn cản lực lượng chấp pháp của ta thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo. Ông bình luận như thế nào về việc Trung Quốc liên tục bổ sung tàu quân sự và cả máy bay tới khu vực Biển Đông?
- Cá nhân tôi không ngờ Trung Quốc huy động số lượng tàu và máy bay hộ tống lớn đến vậy. Điều này thể hiện rằng họ đã toan tính và chuẩn bị khá công phu cho sự kiện hạ đặt giàn khoan lần này và đó cũng là một hành động nhằm phô diễn sức mạnh của họ. Rõ ràng so sánh lực lượng trên biển thì cảm giác Trung Quốc lớn mạnh hơn ta rất nhiều. Nhưng ta cũng không lép vế hơn họ. Ta là nước nhỏ thì có chiến thuật của nước nhỏ. Lịch sử nước ta, Yết Kiêu, Dã Tượng cũng đã có những cách đánh chiến thắng kẻ thù lớn mạnh hơn. Thực tế là giàn khoan của Trung Quốc đến nay đã hơn 20 ngày nhưng họ cũng chưa công bố làm được gì, rõ ràng Trung Quốc cũng bị sức ép lớn từ phía Việt Nam, họ cũng mất rất nhiều công sức để lo đối phó với lực lượng bảo vệ biển của ta. Không những thế họ còn phải chịu sức ép của dư luận thế giới.
- Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để ứng xử với hành động phi lý của Trung Quốc?
- Việt Nam không còn đường lùi. Chúng ta nhất quyết không để họ khoan  thăm dò tại vùng biển của Việt Nam. Nếu họ khoan 1 mũi, thì chắc chắn sẽ khoan 2, 3 mũi… và biển Đông sẽ dần rơi hết vào tay họ. Bởi vậy ta phải kiên quyết, cứng rắn, có chiến thuật phù hợp và phải tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Hiện nay dư luận quốc tế về cơ bản là ủng hộ chúng ta, Mỹ cũng bắt đầu có những quan tâm, đánh giá và thái độ rất tích cực trong vấn đề biển Đông vì họ có những lợi ích rất quan trọng ở đây, đặc biệt là về hàng hải. Thế giới ngày nay đã khác xưa, cộng đồng quốc tế đã có tiếng nói chung, gắn bó lợi ích của các nước khác nhau, vì vậy không phải anh có sức mạnh hơn tôi, anh muốn làm gì thì làm.
- Nhưng nếu họ kiên quyết muốn lấn chiếm, bất chấp dư luận?
- Trong trường hợp Trung Quốc kiên quyết muốn lấn chiếm, dứt khoát sẽ có những va chạm. Nếu như vì chuyện này mà phải “va chạm” với Trung Quốc thì Việt Nam cũng phải sẵn sàng, vì chúng ta không thể lùi được nữa rồi. Chủ quyền không phải là vấn đề nhân nhượng, mặc cả được.
Chơi với Trung Quốc chúng ta phải chịu sức ép về nhiều mặt
- Qua quá trình công tác ở Trung Quốc, ông có thể cho biết người dân Trung Quốc, họ nhìn nhận về vấn đề tranh chấp trên biển Đông như thế nào?
- Nói về vấn đề này, tôi có thể khẳng định rằng suốt mấy chục năm qua, người dân Trung Quốc đã được truyền thông của họ nhuộm đen cái nhìn về Việt Nam với những luận điệu như: Việt Nam chiếm đất, chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của họ, chiếm nguồn dầu khí của họ… Thời báo Hoàn Cầu là con đẻ của Nhân dân Nhật báo, Tân Hoa xã có Sina.com, mạng quân sự có mạng phụ là Trung Quân võng… Những trang mạng phụ này ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái về Việt Nam, thậm chí cả kế hoạch đánh chiếm Việt Nam. Rõ ràng họ đã được bật đèn xanh để người dân Trung Quốc coi chúng ta là kẻ thù.
- Nhưng các nhà cầm quyền Trung Quốc lại luôn khẳng định bằng lời nói về tình đoàn kết, hữu nghị và mong muốn duy trì an ninh, hòa bình trên biển Đông?
- Tôi làm ở Trung Quốc lâu lắm rồi. Những lúc khó khăn, nhường cơm sẻ áo chúng tôi cũng đã trải qua rồi. Những lúc coi nhau như kẻ thù cũng trải qua rồi. Kinh nghiệm đúc rút là đừng bao giờ đặt niềm tin tuyệt đối vào Trung Quốc.
- Ông đánh giá như thế nào về hành động mới đây của Trung Quốc cố tình đón công dân của họ ở Việt Nam về nước, trong khi tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam đã trở lại ổn định và chính các doanh nghiệp này cũng đã bày tỏ tin tưởng vào Chính phủ Việt Nam đã tạo cho họ môi trường đầu tư đảm bảo ANTT?
- Một mặt họ muốn gây sức ép với ta, chơi với Trung Quốc, chúng ta phải chịu rất nhiều sức ép, cả về kinh tế, quân sự và chính trị… đồng thời chúng ta phải chuẩn bị tâm thế đối mặt với những sức ép đó. Nhưng mặt khác họ làm vậy để cố tình lu loa với thế giới rằng Việt Nam đang rất bất ổn với mong muốn tác động vào các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng thực tế cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đã rất tỉnh táo, cùng với sự nỗ lực khắc phục của Chính phủ Việt Nam thì tâm lý các nhà đầu tư sau một thời gian ngần ngại đến nay cơ bản đã ổn định và đầu tư, sản xuất bình thường. Điều đó cho thấy, không phải Trung Quốc muốn dẫn dắt dư luận thế nào cũng được.
-  Ông có điều gì muốn nói với những người dân yêu nước đang sôi sục vấn đề chủ quyền biển đảo?
- Hơn lúc nào hết cần sự tỉnh táo và tin tưởng tuyệt đối vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuân thủ pháp luật. Tôi tin các đồng chí lãnh đạo sẽ có những ứng phó phù hợp, lịch sử chúng ta chưa từng bị khuất phục. Sự thiếu tỉnh táo, quá khích sẽ dễ dàng bị lợi dụng, lòng yêu nước bị đặt nhầm chỗ. Cũng qua hành động này của Trung Quốc buộc chúng ta phải có sự đánh giá lại về bạn và thù.
                                                                                                                     (Theo An Ninh Thủ Đô)

Đừng để Trung Quốc đưa vào thế đã rồi

(Phản đối Trung Quốc xâm lược) - Việc độc chiếm biển Đông trở thành một mục tiêu sống còn của Trung Quốc (TQ) hiện nay.

Sự kiện TQ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam là một bước đi nguy hiểm, đầy tính toán của TQ nhằm đặt “sự việc đã rồi – chủ quyền ở vùng biển này đương nhiên là của TQ”.
 » Phải có kịch bản nếu Trung Quốc đóng cửa biên giới » Tàu Việt Nam tiến sâu vào khu vực giàn khoan trái phép » Nóng chiều 23/5: Đông nghịt tàu cá Trung Quốc quanh giàn khoan trái phép » Biên giới Lạng Sơn những ngày này ra sao?
Ảnh minh họa
Một mình 981 là chưa đủ
Trong năm 2012, chính ông Vương Dĩ Lâm – Chủ tịch Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương TQ (CNOOC) đã mập mờ khi cho rằng: “Các giàn khoan nước sâu cỡ lớn là lãnh thổ quốc gia di động và là một vũ khí chiến lược của TQ”. Do đó có thể sẽ có thêm nhiều giàn khoan di động cỡ giàn khoan Hải Dương 981 xuất hiện ở biển Đông với tư cách là các cứ điểm quân sự giả danh dân sự nhằm “gặm nhấm” dần biển Đông.
Tuy nhiên, việc xuất hiện tiếp theo của các giàn khoan khác còn phụ thuộc nhiều vào hành động của Việt Nam và các quốc gia khác có can hệ trong bức tranh bành trướng của TQ. Cụ thể, nếu Việt Nam vẫn vững nhận thức và hành động phản đối chống lại bất cứ hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam; cộng với sự ủng hộ của dư luận quốc tế và cam kết đảm bảo an ninh của Mỹ thì TQ có thể phải thận trọng và cân nhắc khi đưa các giàn khoan kiểu Hải Dương 981 vào biển Đông.
Đây chính là cơ sở quan trọng mà không chỉ Việt Nam mà các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng phải tính đến trong việc ngăn chặn sự bành trướng của TQ ra toàn bộ biển Đông.
Đừng để TQ đưa vào thế đã rồi
Việt Nam phải kiên quyết giải quyết vấn đề 981 vốn được đánh giá là hết sức nguy hiểm. Sử dụng các giải pháp tiệm tiến và toàn diện, bằng mọi giá giữ vững độc lập, tự chủ, gắn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, tranh thủ tốt sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với tính hợp pháp và chính nghĩa của chúng ta.
Trước mắt, chúng ta cần kiên định tiếp cận các giải pháp hòa bình để giải quyết với TQ nhưng chúng ta vẫn không từ bỏ quyền tự vệ chính đáng theo quy định của Hiến chương Liên Hiệp Quốc nếu cần thiết.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ bản chất vấn đề, kêu gọi hiến kế và ủng hộ chủ trương giải quyết của Chính phủ. Lên án những hành vi sai trái, đe dọa vũ lực và sử dụng vũ lực từ phía TQ. Qua đó tạo được sự đồng thuận, sức mạnh đoàn kết toàn dân trong việc đối phó với những hành động xâm phạm chủ quyền trên biển của TQ.
Trong trung hạn và dài hạn, vấn đề quan trọng cần được chú ý đó là việc chúng ta phải thể hiện sự chủ động trong việc ngăn chặn “từ trong trứng nước” các toan tính bành trướng của TQ. Việc TQ hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dường như cho thấy chúng ta nằm ở trạng thái bị động và do đó dễ bị TQ áp đặt chuyện đã rồi.
Thực tế lịch sử cho thấy ông cha ta cũng đã có nhiều bài học kinh nghiệm trong việc đối phó với những âm mưu bành trướng, xâm lược của TQ. Bài học “tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt trong việc chủ động tấn công ba căn cứ Châu Ung, Châu Khâm, Châu Liêm của nhà Tống ngay trên đất Tống năm 1075, đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống “ngay từ trong trứng nước” đáng để chúng ta tham khảo.
Chính vì lẽ đó mà việc tăng cường công tác nghiên cứu dự báo các động thái của TQ là hết sức cần thiết, qua đó giúp chúng ta đối phó hiệu quả đối với các toan tính mở rộng chủ quyền của TQ trong thời gian tới. Đó là một cách ứng phó hiệu quả để ngăn chặn theo kiểu “đón đầu” các giàn khoan TQ.
PGS-TS Trần Nam Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu biển đảo, ĐH KHXH&NV TP.HCM

Trung Quốc rút giàn khoan ngày 15/8, hay… diễn trò mới?


Ngang nhiên đặt giàn khoan trái phép vào vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Cục Hải sự Trung Quốc còn nhiều lần thông báo giàn khoan Hải Dương 981 sẽ hoạt động 3 tháng ở biển Đông, bất chấp phản ứng gay gắt của Việt Nam và thế giới. Hiện, nhiều người đặt nghi vấn liệu đến ngày 15/8, Trung Quốc có rút giàn khoan như đã nói hay lại có âm mưu gì khác? Nếu như Trung Quốc không rút giàn khoan vào thời điểm trên thì Việt Nam cần triển khai những phương án gì để bảo vệ vùng biển chủ quyền của Tổ quốc?
Trao đổi với PV, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Nghiên cứu Chính sách pháp luật và Phát triển, cho rằng tuyên bố đó không có ý nghĩa gì đối với Việt Nam.
“Nơi Trung Quốc đặt giàn khoan là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đó là nhà mình chứ không phải của họ. Đừng hi vọng họ sẽ dỡ giàn khoan đi bởi việc họ vào là xâm chiếm. Nếu họ không rút đi thì mình sẽ phải đấu tranh đến cùng. Không thể để họ vào ra như nhà họ. Lần này, họ vào rồi họ rút, lần sau họ lại vào, giờ họ vào chỗ này, lần sau họ sẽ vào chỗ khác. Chúng ta phải đấu tranh để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta mà luật pháp quốc tế đã công nhận. Chúng ta không quan trọng tuyên bố đặt giàn khoan 3 tháng của họ và càng không tin họ sẽ rút đi. Nếu có rút đi thì có khi chỉ ngay sau đó, lại có mưu đồ mới, vẫn là ngang ngược xâm lấn vùng biển chủ quyền của Việt Nam và thậm chí cả các nước khác trên biển Đông”, Luật sư Hoàng Ngọc Giao cho biết.
 Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Nghiên cứu Chính sách pháp luật và Phát triển.
Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Nghiên cứu Chính sách pháp luật và Phát triển.
“Khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào khu vực vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam thì đã bộc lộ rõ ý đồ xâm chiếm. Hành vi đưa giàn khoan và đưa các tàu quân sự, hải giám… vào gây hấn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta đã bộc lộ rõ điều đó. Khác gì trước đây họ dùng vũ lực để chiếm đảo Gạc Ma…”, Luật sư Hoàng Ngọc Giao nhận định.
Nói về việc đấu tranh để Trung Quốc phải rút giàn khoan ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, TS Hoàng Ngọc Giao cho rằng, Việt Nam chủ trương đấu tranh hoà bình, nhưng đây không còn là câu chuyện để đàm phán nữa. “Đây là câu chuyện về quyền và quyền chủ quyền trên vùng biển đã được xác định là của Việt Nam. Những hành động sai trái của Trung Quốc diễn ra nhiều lần, liên tiếp, nghiêm trọng. Đây là những chứng cứ rõ rệt, chứ không còn là hành vi mang tính hành chính đơn phương như tuyên bố vùng cấm đánh bắt cá, đánh bắt thuỷ sản. Việt Nam phải khẩn trương tiến hành các thủ tục pháp lý để khởi kiện Trung Quốc ra các toà án quốc tế. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn phải tiếp tục, kiên quyết đấu tranh trên các mặt trận như ngoại giao, kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế, tỉnh táo chống lại mọi chiêu trò của Trung Quốc tại biển Đông. Tất cả vẫn phải kiên trì. Nếu cần có thể dừng các mối quan hệ về kinh tế…”, Luật sư Giao bày tỏ quan điểm