Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Ngoại trưởng Mỹ sẽ nêu vụ TQ thay đổi hiện trạng Biển Đông tại ARF

Ngoại trưởng Mỹ sẽ nêu vụ TQ thay đổi hiện trạng Biển Đông tại ARF


(GDVN) - CSIS khẳng định rằng, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry chắc chắn sẽ nêu vấn đề này ra trong phiên họp Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF).

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.
Global Research ngày 3/8 đưa tin, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế (CSIS) đóng vai trò tham vấn chính cho Tổng thống Obama về trục chiến lược châu Á đã có một bản báo cáo tổng kết về xu hướng gần đây trên Biển Đông và chính sách của Hoa Kỳ.
Báo cáo nhận định rằng các sự kiện trong năm qua diễn ra trên Biển Đông cho thấy sự leo thang căng thẳng trong khu vực là do những hành vi gây hấn không khoan nhượng của Bắc Kinh. CSIS đã đặt ra một chương trình nghị sự tích cực hơn đối với Washington với 2 động lực cơ bản: Xây dựng các lý do pháp lý để bác bỏ yêu sách lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông và tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực.

Không chỉ vạch trần bản chất của đường lưỡi bò, CSIS còn tập trung vào kêu gọi đóng băng các hoạt động xây dựng trong khu vực tranh chấp và coi đó là một biện pháp xoa dịu căng thẳng. Mối quan tâm của Washington và Manila là những công trình Bắc Kinh đang xây dựng trái phép ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam - PV) hòng biến một số bãi đá nửa chìm nửa nổi thành đảo nhân tạo.
Đồng thời báo cáo của CSIS cũng lưu ý rằng cả Đài Loan và Philippines cũng đang xây dựng đường băng trên các đảo họ đang chốt giữ (trái phép) ở Trường Sa.
CSIS khẳng định rằng, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry chắc chắn sẽ nêu vấn đề này ra trong phiên họp Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF) vào ngày 10 tới tại Myanmar.
Báo cáo của CSIS cũng kêu gọi Mỹ xem xét lại lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, điều này sẽ giúp Việt Nam tăng khả năng răn đe đáng tin cậy "chống lại sự xâm lược của Trung Quốc".

TQ ngang nhiên bàn đánh, chiếm đảo Nam Yết của Việt Nam

Báo TQ ngang nhiên bàn khả năng đánh, chiếm đảo Nam Yết của Việt Nam


(GDVN) - Đây là một trong loạt bài phô trương "hỏa lực mồm" của Trung Quốc trong thời gian gầy đây, nhất là khi xảy ra sự kiện giàn khoan 981, muốn đánh vào tâm lý.

Trung Quốc cho tàu chiến, máy bay quân sự, hải cảnh, tàu cá... hung hăng trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, mưu đồ biến vùng biển chủ quyền của Việt Nam thành vùng biển tranh chấp, đòi Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Trung Quốc trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam.
Tờ “Tầm nhìn” Trung Quốc ngày 2 tháng 8 đăng bài viết sặc mùi “hỏa lực mồm” với nhan đề “Chuyên gia: Trung-Việt nếu khai chiến ở Biển Đông, Quân đội Trung Quốc tất phải chiếm trước đảo Nam Yết”. Báo GDVN xin đăng lại nội dung bài viết để độc giả rộng đường tham khảo.
Theo tuyên truyền của bài viết, "Trung-Việt “tuốt kiếm giương cung” ở Biển Đông, xung đột gay gắt thậm chí đã vượt Philippines, hai bên đều không có ý muốn nhượng bộ, đặc biệt là Chính phủ Việt Nam vẫn “cố tình kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế”, muốn sử dụng sức ép quốc tế ép Trung Quốc nhượng bộ, sau đó còn phát triển tốt quan hệ với Nhật Bản, được Nhật Bản cung cấp miễn phí tàu tuần tra, tuy là tàu cũ nhưng là thu hoạch rất vui mừng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng".
Sau các cuộc biểu tình, tuần hành phản đối Trung Quốc vào trung tuần tháng 5, gần đây, truyền thông Anh còn cho biết, trong nội bộ Việt Nam có không ít tiếng nói yêu cầu Việt Nam thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc một cách triệt để, cảnh báo rằng, nếu Việt Nam tiếp tục quá lệ thuộc vào Trung Quốc thì Việt Nam sớm muộn trở thành một bộ phận của Trung Quốc.
Bài viết dẫn lời chuyên gia quân sự nổi tiếng Hồng Kông Mã Đỉnh Thịnh cho rằng, Trung Quốc và Việt Nam nếu khai chiến, mục tiêu đầu tiên của Trung Quốc phải là chiếm lấy đảo Nam Yết.
Về vấn đề truyền thông nước ngoài phỏng đoán Trung Quốc sẽ điều tàu đệm khí Zubr tấn công đảo Senkaku và đảo Nam Yết, ngày 2 tháng 8, Mã Đỉnh Thịnh viết blog cho rằng, tàu Zubr chưa có khả năng này.
Thế lực khủng bố nhà nước Trung Quốc hung hăng đâm chìm tàu cá Việt Nam, không cho cứu ngư dân của tàu cá này - hành động dã man, vô nhân đạo.
Theo Mã Đỉnh Thịnh, Trung Quốc đã từng đánh (xâm lược một phần) quần đảo Trường Sa, đã “đánh” (dùng vũ lực ăn cướp) một lần với Việt Nam ở đá Gạc Ma, nhưng đá Gạc Ma rất nhỏ. Nếu phải tiếp tục “động thủ” với Việt Nam, thì phải tấn công đảo Nam Yết – nơi có tiểu đoàn pháo binh (của Việt Nam).
Bởi vì, theo Mã Đỉnh Thịnh, đảo Nam Yết cách đảo Ba Bình chỉ 10 km, và cách cụm đá Ga Ven chỉ vài km và đây là "mối đe dọa rất lớn" với TQ, cũng là tiền tiêu nhất của Việt Nam, nếu chiếm được đá Nam Yết, Quân đội Trung Quốc có thể triển khai pháo binh – tên lửa, radar ở đó, thậm chí xây bến đỗ, sân bay dùng cho máy bay trực thăng.
Đảo Nam Yết nếu trở thành tiền tiêu của Trung Quốc ở Biển Đông thì sẽ có sự thay đổi về chất đối với “phòng thủ” (tức chiến tranh xâm lược lâu dài) của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông, cho nên nếu tấn công Việt Nam thì phải đánh, chiếm trước đảo Nam Yết.
Thế lực khủng bố nhà nước Trung Quốc hung hăng đâm húc tàu kiểm ngư Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Theo Mã Đỉnh Thịnh, có truyền thông phương Tây suy đoán Trung Quốc chế tạo tàu đệm khí Zubr là để xâm chiếm đảo Senkaku và tấn công Bành Hồ của Đài Loan.
Âm mưu của họ là muốn Trung Quốc và Đài Loan “nồi da nấu thịt”, hơn nữa ở góc độ quân sự đơn thuần, chỉ 20 tàu đệm khí Zubr sẽ đóng vai trò rất hạn chế trong cuộc quyết chiến triệu quân. Nếu Quân đội Trung Quốc trang bị tàu đổ bộ tiên tiến cỡ lớn, thì vài tàu Zubr “thu hồi (xâm lược) đảo, đá do Philippines xâm chiếm” mới là con đường chính.
Theo Mã Đỉnh Thịnh, truyền thông phương Tây cho rằng tàu đệm khí Zubr có trọng lượng và hành trình lớn hơn tàu LCAC của quân đội Mỹ, Nhật Bản. Nhưng, đến học sinh tiểu học cũng lên mạng so sánh vũ khí hai nước.
Những trẻ thông minh một chút cũng sẽ không ảo tưởng Nhật Bản và Mỹ điều tàu đệm khí LCAC chinh chiến xa xôi trên 400 km đến đảo Senkaku tiến hành “hải chiến”. Quân đội Trung Quốc càng không thể ngốc đến mức điều tàu đệm khí Zubr đem lực lượng đánh bộ đến tấn công đảo Nam Yết (của Việt Nam).
Chính quyền Trung Quốc hung hăng cho tàu bắn cháy tàu cá Việt Nam cách đây 2 năm.
Sơ đồ vị trí tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam - sự kiện khủng bố này diễn ra ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 năm 2011.
Trung Quốc đã vài lần cho tàu chiến và binh sĩ xuống tận bãi ngầm James tuyên bố chủ quyền, cùng với các tuyên bố thường xuyên của họ và các hành động uy hiếp đe dọa, khủng bố gần đây... càng bộc lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của họ là nhất quán, không thay đổi.
Ngày 30 tháng 7 năm 2014, tại Hội thảo khoa học mang tên "Sự kiện vịnh Bắc Bộ và chiến công đánh thắng trận đầu - 50 năm nhìn lại" (8/1964 - 8/2014), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Hải quân Việt Nam, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến nhấn mạnh: Trong thời gian tới, Quân chủng tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, sẵn sàng đánh bại các cuộc tiến công trên biển; làm tốt công tác tuyên truyền biển, đảo và công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc triển khai các cuộc vận động, các khâu đột phá và dứt điểm của Quân chủng, của các cấp, các ngành; tiếp tục hoàn chỉnh các phương án bảo vệ vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống.

Trung Quốc ráo riết thúc đẩy tham vọng biển

Trung Quốc ráo riết thúc đẩy tham vọng biển

Thục Ninh
TP - Bắc Kinh đóng thêm các giàn khoan, đội tàu hộ tống cũng như tăng cường lực lượng tuần duyên nhằm chiếm lĩnh biển Đông, báo Mỹ Wall Street Journal đưa tin.
 
Trung Quốc tăng cường đội tàu và giàn khoan phục vụ tham vọng lãnh thổ. Ảnh: Xinhua 
 Trung Quốc tăng cường đội tàu và giàn khoan phục vụ tham vọng lãnh thổ. Ảnh: Xinhua
 
Trung Quốc cũng ráo riết đào tạo đội ngũ chuyên gia thám hiểm các vùng biển sâu, thông qua chương trình hợp tác giữa Trung tâm Biển sâu Quốc gia và Trung tâm Vũ trụ Trung Quốc. 
Wall Street Journal dẫn số liệu của nhà cung cấp thông tin hàng hải IHS Maritime rằng, chỉ trong nửa đầu năm 2014, các doanh nghiệp Trung Quốc, từ Tập đoàn Dầu khí Hải dương quốc gia (CNOOC) đến những nhà cung cấp dịch vụ nhỏ hơn, đều đặt đóng thêm nhiều tàu và giàn khoan phục vụ khai thác ngoài khơi xa, nhiều hơn bất cứ năm nào kể từ năm 2010. Thời gian tới, số lượng này còn tiếp tục tăng. 
Trong 6 tháng đầu năm 2014, Trung Quốc đã đặt đóng các giàn khoan và tàu với tổng trọng tải lên tới 126.300 tấn, bao gồm các giàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí ở vùng biển có độ sâu trung bình, nhiều loại tàu phục vụ khai thác quy mô ngoài khơi và các đội tàu nghiên cứu địa chấn vùng biển nước sâu, tàu hỗ trợ. 
Năm 2013, Trung Quốc đặt hàng đóng một giàn khoan lớn 30.000 tấn. Bắc Kinh lên kế hoạch đóng thêm hai giàn khoan nữa. Các giàn khoan trên lớn tương đương giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc từng hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Giàn khoan Hải Dương 982 dự kiến hoàn tất vào năm 2016 để hoạt động ở biển Đông, Wall Street Journal đưa tin.
Mặt khác, Trung Quốc ráo riết tăng cường đầu tư cho lực lượng tuần duyên nhằm hậu thuẫn khai thác tài nguyên biển. Năm 2013, lực lượng này được tổ chức lại theo mô hình bộ chỉ huy chung, bao gồm cảnh sát biển, ngư chính và một số cơ quan chấp pháp trên biển khác. Lực lượng tuần duyên Trung Quốc sở hữu hàng trăm tàu các loại, đã đặt đóng thêm 40 tàu và 15 chiếc được bàn giao trong năm nay. Theo các chuyên gia, Trung Quốc chú trọng đầu tư hơn vào biển Đông, nơi nước này đang có tranh chấp với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Biển Đông được đánh giá có tiềm năng to lớn về dầu khí. 
Một số chuyên gia nhận định, ngoài mục đích tìm kiếm nguồn năng lượng phục vụ phát triển kinh tế, việc đẩy mạnh phát triển hạm đội khai thác dầu khí ngoài khơi còn là một phần trong tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc. 
“Tôi cho rằng, Trung Quốc sử dụng các giàn khoan vừa như một tuyên bố chính trị, vừa để thăm dò dầu khí”, ông Philip Andrews Speed, chuyên gia an ninh năng lượng thuộc Viện Nghiên cứu năng lượng Singapore, nhận định. 
Theo Wall Street Journal, việc Trung Quốc tăng tốc mở rộng hạm đội khai thác dầu khí biển xa, kèm theo lực lượng bảo vệ hung hăng được xem là những cuộc phiêu lưu xa hơn đang gây tranh chấp căng thẳng hơn nữa với các nước láng giềng.

Khai thác 99,8% biển trên thế giới?
Trước đó, hãng tin Anh Reuters đưa tin CNOOC đang nghiên cứu khả năng chế tạo một tàu khai thác khí đốt di động (FLNG) trị giá nhiều tỷ đô la Mỹ để có thể khai thác khí đốt ngay trên biển Đông, ngay sau khi tuyên bố giàn khoan Hải Dương 981 phát hiện “dấu hiệu của dầu mỏ và khí đốt” trong vùng biển Việt Nam. 
Trang tin Đài Loan Want China Times ngày 3/8 đưa tin, đội ngũ chuyên gia thám hiểm biển sâu Trung Quốc sẽ sớm được huấn luyện như các nhà du hành vũ trụ trong bối cảnh nước này đang đẩy mạnh tham vọng đạt được những thành tựu lớn hơn trong cả hai lĩnh vực biển sâu và không gian vũ trụ.
Trung tâm Biển sâu Quốc gia và Trung tâm Vũ trụ Trung Quốc vừa ký thỏa thuận hợp tác đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và các dự án công nghệ. Theo đó, Trung tâm huấn luyện các nhà du hành vũ trụ Trung Quốc sẽ đào tạo các nhà thám hiểm biển sâu một tháng mỗi năm trong giai đoạn 2014-2016, rèn luyện họ cả về thể lực lẫn kiến thức. 
Phó giám đốc Cơ quan Kỹ nghệ Không gian Trung Quốc Dương Lợi Vĩ cho rằng, cả đội ngũ thực hiện các nhiệm vụ khai thác biển sâu và thám hiểm vũ trụ đều phải chịu những áp lực và nguy cơ như nhau. Nên chương trình hợp tác có ảnh hưởng then chốt tới tuyển chọn, đào tạo con người, cũng như các dự án nghiên cứu trong những môi trường khắc nghiệt.
Trung tâm Biển sâu Quốc gia Trung Quốc chính là đơn vị quản lý chương trình tàu thám hiểm biển sâu Giao Long, giám sát vấn đề tuyển dụng nhân sự và huấn luyện thủy thủ đoàn của dự án. Nhóm này gồm 2 chuyên gia kỳ cựu và 6 người được tuyển tháng 12/2013. Giao Long đã lặn tới độ sâu 7.062 m tại Rãnh Mariana ở Thái Bình Dương vào tháng 6/2012. Trung Quốc tin rằng, điều đó có nghĩa nước này có thể khai thác biển sâu tại 99,8% các đại dương trên thế giới. Trung Quốc đang trở lại một cuộc thám hiểm khoa học trên Thái Bình Dương.
Khởi động chương trình huấn luyện trong tháng 8/2014, Giám đốc Trung tâm Biển sâu Quốc gia Yu Hongjun trông đợi sẽ xây dựng được cơ chế đào tạo đội ngũ khai thác biển sâu cho Trung Quốc.

Philippines giới thiệu kế hoạch giải quyết tranh chấp Biển Đông

Philippines sẽ giới thiệu kế hoạch giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

(Vietnam+) 
Ngoại trưởng Philippines Alberto del Rosario (Nguồn: AFP)

Ngày 1/8, Philippines cho biết nước này sẽ giới thiệu một "kế hoạch hành động ba phần" tại hội nghị khu vực ASEAN sắp tới ở Myanmar nhằm làm giảm căng thẳng và giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước khác trong vùng Biển Đông.

Manila cho biết đã lập ra một "kế hoạch hành động ba phần", trong đó gồm hành động tức thời, kế hoạch trung hạn và giải pháp cuối cùng để giải quyết các hoạt động gây bất ổn tại Hội nghị cấp bộ trưởng các nước ASEAN ở Myanmar tuần tới.

Ngoài ra, Philippines sẽ hối thúc ngay lập tức "hoãn lại các hoạt động đặc biệt làm leo thang căng thẳng" trong khu vực, áp dụng toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc từng ký với ASEAN cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp dựa trên luật quốc tế./. 

'Thoát Trung': Đã nhảy thì rất...ngoạn mục

'Thoát Trung': Đã nhảy thì rất...ngoạn mục? 

 

Theo thứ trưởng Bộ Công thương, trong mọi trường hợp không bao giờ bỏ thị trường Trung Quốc nhưng mặt khác cũng phải đa dạng hóa thị trường.

Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam (Bộ Công thương) và Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ vừa công bố nghiên cứu dự án Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, cảnh báo cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam đang dựa quá nhiều vào sản phẩm thô, thâm dụng tài nguyên, phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.
Hàng nghìn xe tải chở dưa hấu xếp hàng chờ vào cửa khẩu Tân Thanh – Lạng Sơn để xuất hàng sang Trung Quốc
Hàng nghìn xe tải chở dưa hấu xếp hàng chờ vào cửa khẩu Tân Thanh – Lạng Sơn để xuất hàng sang Trung Quốc
Báo cáo cho rằng, dù xuất khẩu tăng nhanh nhưng tỷ trọng xuất khẩu của các thành phần kinh tế trong nước ngày càng giảm. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI chủ yếu làm gia công xuất khẩu với phần lớn nguyên vật liệu nhập khẩu. Họ có rất ít kết nối với các doanh nghiệp trong nước.
Nói cách khác, các doanh nghiệp FDI đầu tư mạnh vào Việt Nam chỉ để giải bài toán về lao động, tận dụng lao động giá rẻ của Việt Nam. Đóng góp của FDI trong việc cải tiến công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất, vì vậy, vẫn không đáng kể. Việt Nam không thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào khối FDI.
Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam dựa quá nhiều vào các sản phẩm thô, thâm dụng tài nguyên, thâm dụng lao động, có giá trị gia tăng thấp.
“Kinh nghiệm của các nước chỉ ra rằng nếu cơ cấu xuất khẩu chỉ tập trung vào một số ngành hàng, đặc biệt là những hàng hóa thô, thì khó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững trên diện rộng”
Trao đổi với Đất Việt khi đề cập đến giải pháp của Bộ Công thương để giải quyết tình trạng trên, ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết đây mới chỉ là báo cáo được đưa ra để xin ý kiến. Sau khi làm chính thức sẽ đưa đến các bộ, ngành để từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp, do vậy, chưa thể nói gì vào thời điểm này. Tuy nhiên, ông Hải khẳng định, trong thời gian rất gần chắc chắn sẽ phải xong.
Thừa nhận tình trạng bán rẻ, bán nhiều, chủ yếu là xuất khẩu thô và xuất sang Trung Quốc đã được các chuyên gia cảnh báo từ lâu chứ không đợi tới nghiên cứu này và bản thân cũng đã nhiều lần đề cập đến vấn đề trên, nhưng Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng nghiên cứu của Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam và Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ có nhiều vấn đề phải làm kỹ hơn, rõ hơn và đi cụ thể vào từng ngành nghề.
"Nói chung chung là phải mở rộng, đa dạng hóa thị trường thì ai chẳng nói được. Vấn đề là thị trường nào, mặt hàng gì, từng vùng Bắc, Trung, Nam, từng ngành phải làm gì... cái này phải làm rõ hơn rất nhiều".
Giải thích vì sao đã nói mãi về đa dạng hóa thị trường nhưng biến chuyển thay đổi sự phụ thuộc vào Trung Quốc lại rất chậm, ông Đỗ Thắng Hải nói: "Đó là vì Việt Nam mình như thế, nước đến chân mới nhảy nhưng nhảy rất ngoạn mục! Cứ yên tâm, ai cũng biết thế nhưng chưa chịu làm, kể cả doanh nghiệp, nên phải từng bước đẩy lên.
 Trước đây người ta sôi sục về chuyện này nhưng khi thấy giàn khoan Trung Quốc rút đi lại thấy bình thường. Khi căng thẳng nhất đừng có làm phức tạp lên. Một mặt vẫn cần đa dạng hóa thị trường nhưng vẫn phải làm ăn với Trung Quốc, trong mọi trường hợp không bao giờ bỏ thị trường 1,5 tỷ dân. Chúng tôi đã và đang làm việc này và làm rất nhiều".
Với kinh phí 3,8 triệu USD từ nguồn vốn ODA của Chính phủ Thụy Sĩ, dự án Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam được thực hiện từ năm 2013-2017, do Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải làm phụ trách. Ông kỳ vọng, dự án này sẽ giúp cho các cấp, các ngành, từ các nhà quản lý đến doanh nghiệp địa phương biết rõ về thực trạng của xuất khẩu Việt Nam, từ đó có thể thay đổi được suy nghĩ và biến thành hành động. 
Thành Luân

Nga hưởng trái ngọt khi Trung Quốc nghênh ngang

Nga hưởng trái ngọt khi Trung Quốc nghênh ngang 


Ấn Độ bí mật đàm phán mua 2 tàu ngầm hiện đại của Nga trong bối cảnh nước này vừa tố Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ.


Hải quân Ấn Độ đang đề nghị Bộ Quốc phòng nước này mua 2 tàu ngầm hiện đại lớp Amur do Nga chế tạo để tăng cường hạm đội tàu ngầm đang suy yếu.
Đề nghị trên được đưa ra trong bối cảnh Ấn Độ trì hoãn đưa ra bản đấu thầu toàn cầu trị giá 12 tỷ USD nhằm mua 6 tàu ngầm thông thường với công nghệ hệ thống không khí tuần hoàn độc lập (AIP) trong khuôn khổ dự án 75-I của hải quân Ấn Độ.
Tàu ngầm lớp Amur do Nga chế tạo
Tàu ngầm lớp Amur do Nga chế tạo
Sự trì hoãn trên dường như đang làm lợi cho Nga. Một nhóm chuyên gia cấp cao từ Tập đoàn xuất khẩu Nga Rosoboronexport đã có mặt tại thủ đô New Delhi 2 tuần trước để đám phán về việc bán hoặc cho thuê 2 tàu ngầm Amur, một nguồn tin trong Bộ quốc phòng Ấn Độ cho biết nhưng không tiết lộ các thông tin chi tiết.
Tàu ngầm lớp Amur là một trong các lớp tàu ngầm mới nhất của Nga. Amur là phiên bản dành cho xuất khẩu của tàu ngầm lớp Lada, một phiên bản cải tiến cao cấp hơn tàu ngầm lớp Kilo, với việc ít gây tiếng động hơn nhiều, hệ thống chiến đấu mới và thêm động cơ đẩy không cần không khí.
Thông tin Ấn Độ đàm phán mua 2 tàu ngầm hiện đại của Nga được đưa ra trong bối cảnh quan hệ giữa Ấn Độ và người hàng xóm Trung Quốc lại trở nên căng thẳng khi Ấn Độ tố Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ.
Theo đó, ngày 27/7, Chính phủ Ấn Độ cáo buộc binh sĩ Trung Quố vượt qua đường kiểm soát thực tế (LAC) dọc biên giới hai nước tại vùng Ladakh thuộc bang Jammu và Kashmir.
Không những thế, binh sĩ Trung Quốc còn bị tố cáo phá bỏ lều của người du mục sống tại khu vực Demchok thuộc vùng Ladakh.
Những căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ biên giới với Trung Quốc thúc đẩy Ấn Độ tăng cường sức mạnh quân sự và Nga chính là nước được hưởng lợi đáng kể từ mâu thuẫn giữa hai nước này.
Hiện Ấn Độ đã mở rộng thị trường mua sắm vũ khí của mình ra nhiều cường quốc phương Tây, tuy nhiên, Nga vẫn là bạn hàng truyền thống của nước này. Nga là nhà cung cấp vũ khí chủ yếu cho Ấn Độ. Không quân Ấn Độ bay MiG-21, hạm đội Ấn Độ gồm toàn tàu chiến do Nga đóng. Riêng năm 2012, tổng số danh mục đơn đặt hàng của Ấn Độ mua vũ khí Nga có trị giá lên đến hơn 7 tỷ USD.
Tháng 11 năm ngoái, Nga đã trao cho Ấn Độ chiếc tàu sân bay trị giá 2,3 tỉ USD, vốn là tàu Đô đốc Gorshkov có từ thời Liên Xô được Nga tân trang lại. Tàu sân bay này đã được phía Ấn Độ đổi tên thành INS Vikramaditya.
Giới quan sát nhận định việc sở hữu thêm tàu sân bay giúp Ấn Độ có khả năng đối phó với sự bành trướng của Hải quân Trung Quốc.
Trong lực lượng của mình, quân đội Ấn Độ có hơn 5.000 xe tăng và chiến xa đánh bộ là sản phẩm của Liên Xô và Đông Âu, trong đó có các xe tăng T-72 và T-55.
Quân đội Ấn có kế hoạch triển khai khoảng 250 xe tăng chiến đấu được làm trong nước và hơn 2.000 xe tăng Nga T-90, tính đến năm 2020.
Một trong những sản phẩm của Nga được xuất khẩu nhiều nhất cho quân đội, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự Ấn Độ là súng AK và các đời súng AK mới hơn.
Mới đây nhất, Tập đoàn sản xuất máy bay Sukhoi của Nga cho biết sẽ ký thêm một hợp đồng với Ấn Độ trong khuôn khổ dự án chung về sản xuất máy bay chiến đấu đa năng thế hệ thứ 5. 
Minh Thái

Trung Quốc đòi bảo tồn cả di sản của… Việt Nam


Với tham vọng độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc hiện đang không ngừng thúc đẩy các hình vi nhằm củng cố các yêu sách của mình trên Biển Đông. Một trong những động thái gần đây nhất của nước này kế hoạch đăng ký Con đường tơ lụa trên biển lên UNESCO và đề nghị công nhận đây là một di sản văn hoá thế giới của TQ.
Song song với việc đệ trình đơn lên UNESCO, Trung Quốc cũng tuyên bố sẽ tiến hành khai quật các con tàu bị đắm xung quanh hai đảo Hoàng Sa và Quan Ảnh thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trong vòng hai năm tới. Đồng thời nước này cũng đã lên chương trình bảo tồn trên đảo Hữu Nhật và đảo Đá Bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa từ đầu năm nay.
Trên thực tế, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ và bảo tồn các di sản văn hoá dưới nước được quy định khá rõ ràng và chi tiết trong một số điều ước quốc tế quan trọng, trong đó quan trọng nhất là Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), Công ước UNESCO về bảo vệ các di sản văn hoá và di sản thiên nhiên thế giới 1972 (Công ước UNESCO 1972) và Công ước UNESCO về Di sản văn hoá dưới nước 2001 (Công ước UNESCO 2001).
Đòi bảo tồn cả di sản của Việt Nam
Đầu tiên, cần phải lưu ý rằng hiện nay cả Việt Nam và Trung Quốc đều không phải là thành viên của Công ước UNESCO 2001, vì thế Công ước này không có giá trị ràng buộc với cả hai nước. Do đó, trong trường hợp này, chỉ có UNCLOS 1982 và Công ước UNESCO 1972 sẽ được áp dụng.
Công ước UNESCO 1972 đặt ra nghĩa vụ xác minh, bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hoá trong phạm vi lãnh thổ của mình. Việc Trung Quốc đưa luôn cả những cổ vật, di sản nằm trong các vùng nước thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam vào các chương trình bảo tồn và đề nghị UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới là hoàn toàn không phù hợp với tinh thần của của Công ước UNESCO 1972.
Công ước UNCLOS 1982 đặt ra nghĩa vụ chung cho tất các các quốc gia phải “bảo vệ các di vật khảo cổ và lịch sử trên biển” và phải “hợp tác vì mục đích này”. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các vùng đáy biển, cho dù quy chế pháp lý của vùng đó là gì.
Ngoài ra, Công ước cũng đưa ra các quy định cụ thể hơn áp dụng cho hai vùng biển là vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đáy biển nằm ngoài quyền tài phán của quốc gia có tên là Vùng. Theo đó, trong vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước cho phép các quốc gia thực hiện mọi sự kiểm tra cần thiết để ngăn chặn và trừng phạt việc di dời các di vật khảo cổ và lịch sử khỏi đáy biển thuộc vùng này. Trong Vùng, Công ước quy định tất cả các di vật khảo cổ hoặc lịch sử đều phải được bảo tồn hoặc sử dụng vì lợi ích của nhân loại nói chung.
Đối với các vùng biển khác, cụ thể, trong vùng nội thuỷ và lãnh hải nơi mà quốc gia ven biển có đầy đủ chủ quyền, các quy định nội luật của quốc gia đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh việc khai quật, sử dụng các di vật. Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, việc khai quật, sử dụng hay bảo tồn các di sản trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không được Công ước nhắc đến. Tuy vậy, cần lưu ý rằng, mặc dù quốc gia ven biển có quyền chủ quyền, tức là quyền được ưu tiên khai thác, sử dụng các “tài nguyên thiên nhiên” trong hai vùng biển này, thuật ngữ này không bao gồm các di vật khảo cổ và lịch sử.
Vì thế, hầu hết các học giả đều đồng ý rằng quy chế tự do biển cả sẽ được áp dụng đối với các hành vi liên quan đến các di vật này. Khi ấy, quyền lợi chính đáng của tất cả các bên liên quan đều phải được tính đến đúng theo tinh thần của Điều 59 UNCLOS 1982, theo đó những xung đột về quyền lợi giữa quốc gia ven biển và các quốc gia khác sẽ được giải quyết trên cơ sở công bằng và các hoàn cảnh hữu quan, có tính đến lợi ích của các bên cũng như của cộng đồng quốc tế.
Hiện nay, qua những tuyên bố của các quan chức Trung Quốc, Con đường tơ lụa trên biển mà TQ dự định đệ trình lên UNESCO bao gồm cả các vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Vì thế, theo quy định của UNCLOS 1982, Trung Quốc không có quyền đơn phương tự ý khai quật các cổ vật, thực hiện các chương trình bảo tồn như đã đề ra hay yêu cầu UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Trung Quốc, đăng ký di sản, UNESCO, giàn khoan 981, biển Đông, Việt Nam, chủ quyền, tòa án quốc tế, Luật quốc tế, UNCLOS
Đảo Hoàng Sa thuộc cụm Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Trung Quốc không có quyền độc chiếm di vật
Dù các cổ vật, di sản nằm trong vùng biển nào thì nghĩa vụ quan trọng nhất mà UNCLOS 1982 đặt ra cho các quốc gia thành viên là nghĩa vụ hợp tác để bảo vệ các di sản văn hoá dưới nước. Đây là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, theo đó khi quốc gia từ chối hoặc phớt lờ các yêu cầu hoặc đề nghị của các quốc gia khác để bảo vệ và bảo tồn các di sản dưới nước, quốc gia này sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế.
Các quy định này cho thấy các quốc gia không thể tiến hành đơn phương bất cứ hành động nào liên quan đến các di vật khảo cổ, văn hoá dưới biển. Ngược lại, các học giả đều khẳng định rằng các tuyên bố và quyền lợi của quốc gia khác cần phải được xem xét đến trong quá trình bảo tồn hoặc sử dụng các di sản này.
Công ước UNESCO 2001 (dù không ràng buộc với Việt Nam và Trung Quốc) cũng quy định rất rõ và nhấn mạnh nghĩa vụ hợp tác thông báo, tham vấn với các nước có liên quan. Điều này càng khẳng định tinh thần chung của luật quốc tế đối với việc trục vớt, khai thác di sản dưới nước là đề cao tinh thần hợp tác giữa các bên.
Như vậy, có thể thấy cho dù quy chế pháp lý của các vùng biển mà Trung Quốc dự kiến khai quật hay của Con đường tơ lụa mà Trung Quốc dự định đệ trình lên UNESCO là như thế nào, luật quốc tế đã chỉ rõ Trung Quốc không có quyền độc chiếm các di vật và thực hiện các hoạt động này một cách đơn phương.
Hơn nữa, đáng chú ý là, khu vực mà Trung Quốc yêu cầu UNESCO công nhận là di sản và dự định tiến hành chương trình bảo tồn là vùng biển nằm trong tranh chấp với các quốc gia láng giềng khác, bao gồm cả Việt Nam. Trong khu vực tranh chấp, UNCLOS 1982 quy định các bên phải có nghĩa vụ đàm phán và nếu có thể, áp dụng các biện pháp tạm thời, tránh làm thay đổi hiện trạng.
Hơn nữa, điều 300 của Công ước cũng đặt ra cho các quốc gia nghĩa vụ phải áp dụng Công ước một cách thiện chí và không được lạm dụng các quyền tự do của mình theo Công ước. Những hành động của Trung Quốc như trên rõ ràng đã đi ngược lại hoàn toàn với các yêu cầu này, một lần nữa thể hiện thái độ coi thường luật quốc tế của một nước được xem là nước lớn trên thế giới.

Còn nữa
Nguyễn Ngọc Lan – Trần Hoàng Yến
*Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Lan hiện là Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao. Thạc sỹ Trần Hoàng Yến hiện đang là NCS tại Viện Luật Biển Hà Lan, Đại học Utrecht, Hà Lan. Hai tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Đăng Thắng về những góp ý của anh trong quá trình thực hiện bài viết này.
(Theo Vietnam+)

2016, TQ hoàn thành giàn khoan 982 để đưa ra Biển Đông

2016, TQ hoàn thành giàn khoan 982 để đưa ra Biển Đông

 - Giàn khoan khổng lồ mới Hải Dương 982 dự kiến được TQ hoàn thành vào năm 2016, được cho là có thể khoan ở độ sâu 5.000m, đứng vững trong điều kiện biển động và gió bão lớn.

Đơn vị chế tạo là công ty Đóng tàu công nghiệp Đại Liên.
Theo Agility Projects, đơn vị thiết kế giàn khoan này ở Na Uy, Hải Dương 982 có thể khoan ở độ sâu 5000m và hơn nữa.
Nhưng đây chỉ là sự khởi đầu nỗ lực lớn của TQ nhằm khai thác tài nguyên tự nhiên ở Biển Đông.
TQ đang đẩy mạnh nỗ lực mở rộng “hạm đội dầu” ngoài khơi, hộ tống bởi các tàu phòng vệ bờ biển thực hiện tham vọng tiến xa, nhanh hơn ra biển tìm kiếm tài nguyên năng lượng.
TQ, dầu khí, giàn khoan, Biển Đông, chủ quyền
Mô hình giàn khoan khổng lồ mới của TQ dự kiến hoàn tất năm 2016
Trong nửa đầu năm nay, các công ty TQ từ tập đoàn dầu khí khổng lồ CNOOC tới những nhà cung cấp dịch vụ nhỏ hơn đều đặt đóng thêm nhiều tàu và giàn khoan phục vụ những dự án khai thác ngoài khơi hơn hẳn mọi năm kể từ 2010, theo dữ liệu của cơ quan tư vấn thông tin hàng hải IHS Maritime.
Thêm vào đó, hai giàn khoan khác đang được lên kế hoạch chế tạo.
Những giàn khoan mới sẽ lớn như Hải Dương 981, giàn khoan mà TQ đơn phương hạ đặt trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa VN hồi đầu tháng 5.
Nhưng Philip Andrews-Speed - chuyên gia an ninh năng lượng tại Viện Nghiên cứu năng lượng của Singapore nhận định: "Họ (TQ) sẽ sử dụng các giàn khoan như một tuyên bố chính trị hơn là việc thăm dò đơn giản”.
Giàn khoan riêng cho Biển Đông
Khoan dầu ở vùng nước sâu là một xu thế toàn cầu khi các khu vực trữ lượng có điều kiện khai thác tốt hơn đã trở nên cạn kiệt. Những công ty năng lượng buộc phải trông chờ vào những khu vực xa xôi, thậm chí đối mặt rủi ro về chính trị.
Một sự đột phá trong lĩnh vực khoan nước sâu có thể tạo ra sự thay đổi bước ngoặt cho an ninh năng lượng TQ giống như sự bùng nổ đá phiến sét của ngành năng lượng Mỹ.
Năm 2009, CNOOC tuyên bố đầu tư 30 tỉ USD cho các dự án nước sâu trong vòng 20 năm. Một người phát ngôn CNOOC từ chối bình luận khi được hỏi, liệu đội tàu dầu mới có xung đột với các láng giềng TQ trong công cuộc tìm kiếm năng lượng. Người này cho biết, công ty hiện vẫn theo đuổi kế hoạch thăm dò đã tuyên bố trong năm nay.
Trong khi đó, một phát ngôn viên của COSL tiết lộ, công ty này sẽ cung cấp chi tiết việc nâng cấp đội tàu cũng như kế hoạch đóng mới trong báo cáo tài chính tháng 8. COSL là công ty nhà nước chuyên về khoan ngoài khơi với quy mô lớn nhất thế giới, có nhiều kinh nghiệm khoan nước sâu ở Biển Bắc, vịnh Mexico và Indonesia.
Theo IHS Maritime, đơn đặt hàng của TQ cho các tàu và giàn khoan ở nửa đầu năm nay tổng cộng lên tới 126.300 tấn, bao gồm nhiều loại tàu phục vụ nhu cầu hoạt động ngoài khơi quy mô lớn như các giàn khoan nước sâu và trung bình, tàu thăm dò địa chất nước sâu, các tàu hộ tống…
Một nỗ lực được tiến hành song song với đội tàu dầu chính là lực lượng phòng vệ bờ biển TQ với việc sáp nhập các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, ngư chính, cảnh sát biển vào một đơn vị thống nhất. Hạm đội này với con số hơn 100 tàu, hiện đã đặt thêm khoảng 40 tàu nữa và dự kiến nhận được 15 chiếc trong năm nay.
Theo Tân hoa xã, mục tiêu của việc tái cơ cấu là gia tăng khả năng của cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, cải thiện việc bảo vệ các tài nguyên đại dương, bảo vệ tốt hơn các quyền hàng hải và lợi ích của TQ.
Trong khi biển Hoa Đông - nơi TQ có tranh chấp chủ quyền với Nhật - có thể là tiềm năng thăm dò và khai thác, thì Biển Đông sẽ là nơi thu hút phần lớn các nỗ lực nói trên của TQ vì được cho là vùng biển có trữ lượng năng lượng lớn.
Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng đã chứng minh và tiềm năng ở Biển Đông vào khoảng 11 tỉ thùng dầu và 190 nghìn tỉ mét khối khí tự nhiên. Cơ quan Khảo sát địa chất Mỹ cũng cho hay, tài nguyên dầu khí chưa được khám phá ở toàn bộ khu vực châu Á-TBD vào khoảng 48 tỉ thùng dầu và 740 nghìn tỉ mét khối khí tự nhiên.
Những phát hiện gần đây cho thấy, khu vực này có thể có nhiều khí hơn là dầu, và việc khai thác nước sâu sẽ đối mặt với muôn vàn trở ngại về hậu cần và công nghệ.
Ông Andrews-Speed cho rằng, TQ có khả năng tiến xa hơn vào Biển Đông so với trước đây, vượt qua tầm với của các láng giềng nhỏ hơn vốn trông chờ vào kinh nghiệm nước ngoài.
Thái An  (theo Nhật báo Phố Wall)